Y HỌC CỔ TRUYỀN - CHÂM CỨU HỌC


 

BỔ PHÁP

a-Đại Cương

Bổ pháp thường dùng trong trường hợp hư nhược của Khí, Huyết, Tân dịch, Tạng, Phủ, Âm, Dương.

Bổ pháp bao gồm các phương pháp: Nâng cao (thăng đề) dương khí, phục hồi (hồi nạp) dương khí, kích thích dương khí, điều động nguyên khí, hộ dưỡng âm khí, hóa sinh âm huyết, hành khí hoạt huyết, điều ḥa ngũ tạng, tẩy rửa lục phủ, làm mạnh gân xương, bổ năo tủy...

b-Chọn Huyệt Theo Bổ Pháp

Thường chọn huyệt có tác dụng bổ như:

+ Bá Hội, Đàn Trung, Khí Hải, Túc Tam Lư để bổ khí, thăng khí.

+ Tam Âm Giao, Huyết Hải để bổ dưỡng âm huyết.

Nếu cơ thể người bệnh quá suy nhược, không đáp ứng với châm th́ nên chuyển sang dùng phương pháp cứu cho thích hợp hơn.

c-Cách Châm

Thiên ‘Ly Hợp Chân Tà Luận’ ghi: “Hoàng Đế hỏi: “Chứng bất túc th́ dùng phép bổ như thế nào?

Kỳ Bá đáp: Phép bổ trong châm thích trước tiên là t́m ra huyệt vị, để cho kinh khí phân bố. Sau đó lại đè nhẹ lên da, búng vào huyệt vị để cho bệnh nhân tập trung chú ư vào đó, rồi bấm đúng huyệt vị mà châm ngay kim vào, đợi đến lúc khí mạch lưu thông th́ rút kim ra. Lúc đó tay phải rút kim, tay trái đè ngay vào lỗ kim để cho chân khí không tiết ra. Phương pháp châm kim là khi bệnh nhân thở ra gần hết th́ châm kim vào, yên tĩnh đợi khí đến, lưu kim 1 lúc, không để ư đến thời gian lâu hoặc mau. Khi đắc khí rồi, phải khéo léo giữ ǵn, đợi đến lúc thở hơi vào th́ rút kim ra. Như vậy th́ khí không tiết ra ngoài. Sau khi rút kim rồi, bịt kín huyệt lại để cho khí lưu lợi ở trong, vinh vệ không tiết ra ngoài th́ gọi là Bổ” (TVấn 27, 13-14).

Trong Bổ pháp thường dựa trên 2 nguyên tắc :

+ Nguyên Tắc 1: Hư Tắc Bổ.

Hư phần nào, hư ở đâu, bổ ngay vào chỗ đó.

Theo nguyên tắc này, có thể chọn :

- Huyệt Nguyên v́ huyệt Nguyên là nơi kinh khí tập trung mạnh nhất của mỗi đường kinh.

- Huyệt liên hệ với tạng bệnh, trên cùng đường kinh.

Thí dụ: Tạng Phế suy, Phế chủ Kim, Châm bổ huyệt Kinh Cừ (Kinh Cừ là Kinh Kim Huyệt của kinh Phế).

+ Nguyên Tắc 2: Hư Bổ Mẫu (Nguyên tắc tương sinh).

Theo nguyên tắc này, khi 1 tạng phủ hoặc 1 hành nào đó của đường kinh bị suy yếu quá, nơi đó đang bị suy yếu, không thể lấy khí ở đó để bù đắp vào chỗ suy yếu. Do đó, phải lấy khí từ cơ quan Tạng Phủ hoặc hành sinh ra (Mẫu) chỗ đang bị bệnh (Tử). Thí dụ: Bệnh lao phổi, Phế bị suy yếu.

+ Bổ cho Tỳ v́ Tỳ Thổ sinh Phế Kim.

+ Trên cùng đường kinh: Phế thuộc Kim, bổ huyệt Thổ v́ Thổ (Mẫu) sinh Kim (Tử). Chọn huyệt Thái Uyên (v́ Thái Uyên là Thổ huyệt của kinh Phế)...

CHÂM CỨU HỌC

 
ĐẠI CƯƠNG

CHƯƠNG IV : CỨU PHÁP
LINH QUY BÁT PHÁP
LyThuyet
LỊCH SỬ CHÂM CỨU HỌC
Lịch sử Hệ thống Kinh Lạc Mạch Hệ thống Huyệt

BÁT PHÁP

BỔ PHÁP
BỔ TẢ PHÁP
CHÂM CỨU VÀ BÁT PHÁP
HĂN PHÁP
HỢP PHÁP
THANH PHÁP
THÔNG PHÁP
TIÊU PHÁP
TẢ PHÁP
ÔN PHÁP

ĐIỀU TRỊ

Chỉ Định Và Chống Chỉ Định Của Châm
I- BỆNH LƯ
LẬP PHƯƠNG TRỊ LIỆU
NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ KINH LẠC MẠCH
Nguyên tắc Điều Trị Huyệt LẠC
Nhóm Huyệt Mộ

THỦ PHÁP CHÂM

BỔ TẢ
CHÂM CỨU VÀ TẠNG PHỦ
CHỌN KIM
CHỌN TƯ THẾ CHÂM
CÁCH CHÂM
HƯỚNG CHÂM KIM
MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC THƯỜNG KHI CHÂM
SÁT TRÙNG KIM VÀ DA
THỜI GIAN LƯU KIM
THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ
THỜI ĐIỂM CHÂM
THỦ PHÁP CHÂM
Vượng (Vựng) Châm
ĐẮC KHÍ
ĐỘ NÔNG SÂU CỦA KIM CHÂM

 

, In trang này   J

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Design by HT MEDSOFT

CXem trang tốt nhất ở độ rộng màn h́nh 1024 x 768 -- Tŕnh duyệt  Internet Explorer 5.0 trở về sau