Y HỌC CỔ TRUYỀN - CHÂM CỨU HỌC |
|
CHƯƠNG IV: CỨU PHÁP1- Định NghĩaCứu pháp là phương pháp dùng hơi nóng kích thích phản ứng của cơ thể qua các huyệt vị, thông qua tác dụng của huyệt vị Kinh lạc để tạo điều khí, giảm đau, ôn thông khí huyết, tạo ra hiệu quả điều trị và pḥng ngừa bệnh tật. 2-Dược Liệu
Dược liệu chính thường dùng là Ngải Cứu (Ngải Diệp - Folium Artemisia), được ṿ hoặc nghiền nát thành dược liệu gọi là Ngải Nhung. Cách chế Ngải Nhung: thu hái lá Ngải vào đầu tháng năm (sách cổ cho rằng lá Ngải thu hái vào đúng ngày 5-5 Âm lịch là tốt nhất), phơ trong bóng râm cho khô. Sau khi kô, chỉ lấy lá, ṿ hoặc giă nát, bỏ lá hoặc cuống đi. Phần xử dụng là những sợi xơ nhỏ của lá, có màu vàng nhạt, mềm, sờ vào thấy mịn như nhung, v́ vậy gọi là Ngải Nhung.
3- Tác Dụng-Thiên ‘Quan Năng’ ghi: “ Có những bệnh không thích ứng với việc châm, nên dùng phép cứu” (LKhu 73, 26). -Thiên ‘Quan Năng’ ghi: “ Nếu gặp trường hợp Kinh Mạch bị hăm, phải dùng Ngải cứu để cứu là đúng nhất. Khi nào Lạc Mạch kết lại thành những đường cứng, cũng nên dùng Ngải cứu để trị” (LKhu 73, 32-33). -Sách ‘Thần Nông Bản Thảo ’ ghi: “Lá Ngải ... dùng lửa mà cứu có thể thông các kinh mà trăm bệnh khỏi”. -Sách ‘Bản Thảo Kinh Sơ’ ghi: “Khi đốt lá Ngải để cứu th́ khí nóng chạy vào trong, vào đến gân cốt, cho nên cứu được trăm bệnh”. -Sách ‘Bản Thảo Cương Mục Cầu Chân’ ghi: “Người ta Dương khí gần tuyệt, dùng lá Ngải mà cứu th́ lập tức hồi dương, sinh mạch”. -Sách ‘Bản Thảo Tùng Tân’ ghi: “Ngải Diệp vị đắng, cay, tính ôn, thuần dương, có khả năng hồi thoát khi dương khí tuyệt, thông 12 Kinh, chạy vào 3 kinh Âm, lư khí huyết, trục hàn thấp, làm ấm tử cung, chỉ (cầm) các chứng về huyết, ôn trung, khai uất, điều kinh, an thai... dùng lửa để cứu có tác dụng thấm nhập vào các kinh mà trị trăm bệnh”. -Sách ‘Thần Phương Hoa Đà’ ghi: ”Dùng lá Ngải cứu huyệt Túc Tam Lư trị được 5 chứng lao, 7 chứng thương”. -Sách ‘Y Học Nhập Môn’ ghi: “Phàm bệnh mà dùng thuốc không có công hiệu, châm không có kết quả, tất phải dùng phép cứu”. -Sách ‘Thần Cứu Kinh Luân’ ghi: “Phép cứu dùng lửa, tính nhiệt mà rất nhanh. H́nh thể th́ mềm nhưng công dụng lại cương, có tác dụng tiêu được âm ế, chạy mà không dừng, chạy vào được Tạng Phủ. V́ Ngải có vị cay, khi đốt lên có vị thơm nên có khả năng thông 12 kinh, vào 3 kinh âm, lư khí huyết, trị trăm bệnh như trở bàn tay”. -Sách ‘Ḥa Hán Dược Khảo’ ghi: “Lá Ngải lâu năm dùng để cứu có sức chạy thấu vào các kinh và trị được trăm bệnh”. -Sách ‘Dược Tính Bản Thảo’ ghi: Lá Ngải dùng để cứu có thể thông được kinh và thấu được tận xương”. -Bản-Bổn-Cống (viện trưởng Đông Kinh Châm Cứu Học Viện), qua khảo sát tác dụng của Ngải cứu cho thấy: Ngải cứu khi cháy sắp hết th́ chỉ trong nháy mắt, sức nóng của nó chạy sâu vào trong cơ thể, tạo ra 1 cảm giác như có 1 vật nhọn đâm thẳng vào nhưng liền đó thấy có cảm giác sướng khoái ngay. Nếu dùng que củi đỏ hoặc là điếu thuốc lá đang cháy mà dí vào huyệt th́ chỉ thấy nóng rát ngoài da chứ không có cảm giác trên”. Trên lâm sàng, theo sách ‘Trung Y Cương Mục’ có thể thấy Ngải Cứu Tác Dụng:a- Ôn Kinh Tán Hàn+ Thiên ‘Cấm Phục’ ghi: “Nếu khí hăm xuống th́ dùng phép cứu” (LKhu 48, 31) - “ Khi nói: Mạch hăm hạ có nghĩa là huyết kết bên trong, bên trong có nổi rơ đường huyết lạc. Huyết hàn th́ nên cứu” (LKhu 48, 49). + Thiên ‘Dị Pháp Phương Nghi Luận’ ghi: “ Bắc phương ... tạng bị hàn, sinh ra chứng đầy trướng, phép chữa nên dùng Ngải cứu” (TVấn 12, 6). Qua các đoạn kinh văn trên cho thấy, phép cứu có tác dụng ôn kinh, tán hàn. Do hỏa nhiệt có tác dụng thấm thấu vào cơ nhục, ôn kinh, hành khí. Gần đây, trên lâm sàng, các nhà nghiên cứu dùng phép cứu trị các chứng bệnh đau nhức do hàn thấp và các bệnh do hàn tà gây ra: dạ dày đau, bụng đau, tiêu chảy, kiết lỵ. b- Phù Dương Cố Thoát+ Sách ‘Biển Thước Tâm Thư’ ghi: “ Chân khí hư th́ bị bệnh, chân khí thoát th́ chết, phương pháp bảo vệ mạng sống: cứu pháp là hay nhất”. + Sách ‘Thương Hàn Luận’ ghi: ‘Chứng hạ lỵ, tay chân lạnh giá, không có mạch, dùng phép cứu”. - “ Thương hàn 6-7 ngày, mạch Vi, phiền táo, cứu kinh Quyết âm, chứng quyết không khỏi th́ chết”. Như trên cho thấy, hễ dương khí bị hăm hoặc muốn thoát, có thể dùng phép cứu. c-Tiêu Ứ, Tán Kết+ Thiên ‘Thích Tiết Chân Tà’ ghi: “Khi khí trời lạnh lẽo sàm cho đất và nước bị lạnh đóng băng. Dương khí của con người bị tiềm phục lại ở bên trong, b́ phu bị bít kín... Nay nếu huyết mạch ngưng kết, đóng cứng lại, đi đứng khó khăn, không thể nhất thời làm cho mềm dịu trở lại được...Phép trị quyết nghịch: trước hết phải dùng hỏa khí để hơ nóng, nhằm điều ḥa kinh mạch, tất cả các nơi như ḷng bàn tay, nách, khủy tay, đầu gối, cổ và cột sống, tất cả phải cứu cho ấm nóng lên. Khi hỏa khí đă thông đạt khắp nơi th́ lúc đó huyết mạch sẽ vận hành b́nh thường” (LKhu 75, 81-85). d- Pḥng Bệnh, Bảo Vệ Sức Khỏe+ Sách Thiên Kim Yếu Phương’ ghi: Khi người ta đi chơi nước Ngô Thục, trong ḿnh họ luôn chuẩn bị vài 3 chỗ và cứu, mục đích là đừng để cho khí chướng lệ, ôn ngược độc làm hại”. + Sách ‘Biển Thước Tâm Thư’ ghi: “ Con người khi tuổi về già, khí huyết suy, v́ vậy tay chân thường không ấm, nguyên khí ở dưới bị hư tổn, động tác hàng ngày thường khó khăn.... Con người trong lúc chưa bệnh, nên thường xuyên cứu các huyệt Quan Nguyên (Nh.4), Khí Hải (Nh.6), Mệnh Quan (Mệnh Môn - Đc.4), Trung Quản (Nh.12)... tuy phương pháp này không làm cho chúng ta sống trường sinh nhưng cũng có thể giúp chúng ta sống thọ trăm tuổi” 4- Phân LoạiTrên lư thuyết, cứu pháp được chia làm 2 loại: + Cứu trực tiếp. + Cứu gián tiếp.
a-Cứu Trực Tiếp : Ngày xưa được gọi là phép ‘Cứu Chính Thống’. Dùng mồi ngải cứu trực tiếp lên da để tạo thành vết bỏng. Phương pháp này được phổ biến rất rộng ở Nhật Bản. Tục ngữ Nhật Bản có câu: ‘Nhược yếu an, (Túc) Tam Lư thường bất can’ (muốn b́nh an, đừng để cho huyệt Túc Tam Lư khô). Ở Nhật Bản có 1 phương pháp cứu trực tiếp thường xuyên hàng tháng ở huyệt Túc Tam Lư để tăng tuổi thọ (xem thêm huyệt Túc Tam Lư). Tuy nhiên phương pháp này hiện nay ít được xử dụng. b- Cứu Gián Tiếp - Thực Hiện: Dùng mồi ngải cứu cách qua 1 vật khác: Gừng, Tỏi... hoặc dùng các điếu thuốc ngải cứu hơ ấm các huyệt. Tác Dụng:gây kích thích liên tục và mạnh hơn đối với huyệt vị và vùng da. Phương pháp này vừa có tác dụng của cứu ấm và cứu mổ c̣. Vừa kích thích tại chỗ đối với ổ bệnh lại có thể ảnh hưởng đến ổ bệnh ở xa. Thí dụ: cứu giữa rốn (huyệt Thần Khuyết) để trị tiêu chảy, cứu huyệt Chí Âm (Bq.67) để trị thai lệch đều dùng phương pháp cứu này.b.1- Cứu Cách Gừng: là phương pháp phổ biến nhất. Cắt Gừng thành những miếng mỏng, dùng kim đâm nhiều lỗ trên mặt Gừng, lấy mồi ngải (to nhỏ tùy yêu cầu), đặt lên trên mặt Gừng rồi châm lửa cho cháy dần. Khi thấy hơi nóng th́ nhấc miếng Gừng lên rồi lại hạ xuống, làm như vậy cho đến khi mồi ngải tắt hẳn th́ lại thay mồi ngải khác hoặc miếng Gừng khác cho đến khi đạt yêu cầu. Cứu cách Gừng có tác dụng ôn trung, tán hàn, thường dùng trị Tỳ Vị hư hàn, bụng đau, nôn mửa, tiêu chảy, Thận hư, di tinh... b.2- Cứu Cách Tỏi: cắt Tỏi thành những miếng mỏng, cho mồi Ngải lên và đốt giống như cứu cách Gừng. Cứu cách Tỏi có tác dụng tiêu viêm, trừ độc, giảm đau, dùng và chữa mụn nhọt lâu ngày, vết thương do côn trùng, rắn rết cắn, lao phổi thời kỳ đầu. b.3- Cứu Cách Muối: Dùng muối đặt trên rốn (Thần Khuyết), cho mồi ngải lên và cứu như cứu cách Gừng. Cứu cách muối có tác dụng hồi dương, cố thoát, được dùng trị bụng đau, nôn mửa, tiêu chảy, chân tay giá lạnh hoặc trong trường hợp dương khí của cơ thể bị thoát: trúng hàn, chết đuối... b.4- Cứu Cách Bánh: dùng dược liệu chế thành như miếng bánh mỏng, đặt trên vùng huyệt cần cứu, cho mồi ngải lên cứu giống như cứu cách Gừng. Dược liệu xử dụng có thể là Đậu Xị, Phụ Tử...
b.5- Cứu Điếu Ngải: Dùng giấp bản mỏng, cắt thành miếng dài 20cm, rộng 4cm, rải ngải nhung vào , cuốn thành như điếu thuốc, đốt cho cháy, hơ gần hoặc xa vùng huyệt chữa trị. Có 3 cách cứu điếu ngải: 1- Cứu Ấm:
-Thực hiện: đốt đầu điếu ngải, hơ trên huyệt, cách da chừng 2cm, khi người bệnh thấy nóng th́ để cách xa dần ra, đến mức nào người bệnh thấy nóng ấm, dễ chịu th́ giữ nguyên vị trí đó cho đến khi thấy da ửng đỏ lên là được. Thường cứu như vậy khoảng 5-10 phút là đủ. - tạo
kích thích liên tục, có khả năng làm cho khí huyết của kinh lạc hoặc tại chỗ
được vận hành tương đối mạnh. Phương pháp này thích hợp cho bệnh tại chỗ và
kinh lạc bị ngăn trở.
|
|
|
-
|
|
- Thực Hiện: Đặt điếu ngải gần da, nhấc lên, hạ xuống như con chim sẻ mổ thóc, làm như vậy cho đến khi thấy da ửng đỏ lên là được.
-
thường dùng phương pháp cứu mổ c̣. Thí dụ trường hợp dạ dày đau, chọn huyệt ở xa là huyệt Túc Tam Lư (Vi.36), Răng đau, chọn huyệt Hợp Cốc (Đtr.4)... đều nên sử dụng phương pháp mổ c̣. Phương pháp này có tác dụng giải trừ khá hiệu quả đối với chứng trạng cấp tính. Các chứng bệnh thực hoặc nơi trẻ nhỏ thường dùng phương này.
- Thực Hiện: Dùng 1 số dược vị (thường là Đương Quy, Hạt Hẹ, Thương Truật...) đốt cho khói bốc lên, hứng lấy khói đó dẫn vào ổ bệnh. Thí dụ: xông khói hạt Hẹ để trị răng đau, xông khói Đương Quy trị vú sưng... Cũng có thể dùng hơi thuốc để xông như xông Dấm để trị khớp viêm...
Mục ‘Hỏa Thích Tiên Phương’ trong sách ‘Trọng Lâu Ngọc Ngoạt’ ghi cách xông trị chứng hầu tư làm họng bị ngăn nghẹn muốn chết như sau: “Dùng dầu Ba Đậu (Ba Đậu Du), thấm lên giấy quấn sợi đốt lửa, khi khói lên th́ thổi tắt ngay. Bảo bệnh nhân há miệng ra, đưa ngay thuốc vào họng. (Bệnh nhân sẽ) đột ngột thổ ra huyết màu tím, lập tức khí sẽ thông và nói được”.
Sách ‘Châm Cứu Đại Thành’ có giới thiệu 1 phương pháp xông hơi nóng vào rốn để pḥng và trị bệnh gọi là phép ‘Chưng Tề’. Đây là 1 phương pháp độc đáo và có ích lợi, v́ vậy chúng tôi chọn giới thiệu dưới đây để tham khảo.
a- Dược Liệu
Ngũ Linh Chi (dùng sống ) 12g
Đấu tử thanh diêm (dùng sống ) 20g
Nhũ hương (dùng sống ) 4g
Một dược (dùng sống ) 4g
Dạ minh sa (sao sơ) 4g
Thử phẩn (sao sơ) 12g
Càn song đầu (Hành phơi thật khô) 8g
Mộc thông 12g
Xạ hương 0, 4g
Nghiền nát, trộn đều, cho vào b́nh đậy kín.
Lấy vỏ cây Ḥe 1 miếng, cắt ra 5-7 miếng trong bằng đồng yiền, đường kính chừng 2 phân hoặc hơn.
Bột ḿ, 8-12g, ḥa nước, hấp chín, nặn thành bánh h́nh tṛn vừa để đặt lên trên rốn.
Thực Hiện: Bảo người bệnh nằm ngửa, lấy miếng bánh bột ḿ đă làm đặt trên lỗ rốn, lấy 8g thuốc bột rắc vào rồi dùng miếng vỏ Ḥe đă cắt tṛn úp lên trên lớp thuốc. Lấy Ngải nhung, to bằng hạt bắp, đặt lên trên miếng vỏ Ḥe rồi đốt. Bao nhiêu tuổi th́ đốt bấy nhiêu tráng. Nếu miếng vỏ Ḥe khô th́ thay miếng khác.
Khi cứu, tùy theo thời tiết và giờ giấc để lấy thêm chính khí và Âm Dương của trời đất, theo sức thuốc đưa vào cơ thể:
|
Ngày |
Giờ |
|
Lập Xuân |
Tỵ (9-11g) |
|
Xuân Phân |
Mùi (13-15g) |
|
Lập Hạ |
Th́n (7-9g) |
|
Hạ Chí |
Dậu (17-19g) |
|
Lập Thu |
Tuất (19-21g) |
|
Thu Phân |
Ngọ (11-13g) |
|
Lập Đông |
Hợi (21-23g) |
|
Đông Chí |
Dần (3-5g) |
Theo sách ‘Châm Cứu Đại Thành’ : nếu thực hiện phương pháp này th́ tà độc không xâm nhập vào được cơ thể, tật bệnh không thể phát sinh ra được, Tỳ Vị lại được cường tráng lên, sống lâu khỏe mạnh.
Dùng dược liệu (muối rang nóng) hoặc nước nóng bọc lại để chườm cứu lên vùng bệnh. Phạm vi kích thích của phương pháp này rộng hơn, thời gian thường kéo dài hơn. Trên lâm sàng thường được áp dụng trong các chứng bệnh qua hư hàn. Thí dụ: Tiêu chảy, trúng hàn, thường dùng muối rang chườm nóng ở vùng huyệt Thần Khuyết (lỗ rốn).
Thiên ‘Thọ Yếu Cương Nhu’ sách Linh Khu có hướng dẫn phương pháp chườm thuốc như sau: “ Hoàng Đế hỏi: Phép dùng thuốc để đắp hơ như thế nào? - Bá Cao đáp: Dùng rượu ngon 20 cân, Thục Tiêu 1 thăng, Can Khương 1 cân, Quế 1 cân.4 thứ này cắt nhỏ, ngâm vào trong rượu. Dùng bông g̣n 1 cân, vải trắng mịn 4 trượng , tất cả bọc lại, cho vào trong rượu. Để b́nh rượu lên ḷ đốt bằng phân rượu phơi khô. B́nh rượu phải được đậy nắp, trét kín lại không cho ra hơi. Ngâm như vậy 5 ngày 5 đêm, xong rồi lấy bọc vải có bông đem ra phơi nắng cho khô. Sau đó lại tiếp tục ngâm cho đến khí hết nước cốt. Bây giờ, cứ mỗi lần ngâm là phải tṛn 1 ngày và khi lấy ra nó đă khô. Lấy bă khô đă trộn lẫn với bông gói kín lại trong chiếc khăn dài 6-7 xích, được khoảng 6-7 gói. Trong mỗi khăn đều chứa sẵn 1 loại tro than của cây Dâu (tằm). Dùng khăn này để hơ đắp, cứu lên chỗ bị hàn tư. Làm như vậy sẽ khiến cho nhiệt nhập vào tận nơi bị bệnh hàn. Làm như vậy khoảng 30 lần th́ thôi” (LKhu 6, 51-52).
+ Sau khi châm kim xong cứu (đốt) trực tiếp trên thân kim hoặc dùng điếu ngải hơ ấm thân kim. Phương pháp này trong sách Nội Kinh gọi là Phần Châm. Các tác giả sau này gọi là Ôn Châm Cứu Pháp.
Thiên ‘Kinh Cân’ (Linh Khu 13), sau mỗi đường kinh Cân đều ghi: “ Phép trị nên châm bằng phép ‘Phần Châm’ để đuổi hàn tà cho nhanh...”.
+ Có thể dùng ngải nhung pha trộn thêm 1 số dược liệu khác làm thành cây thuốc cứu theo phương pháp Thái Ất như sau (gọi là Thái Ất Thần Châm Cứu ) gồm:
|
Ngải Nhung 12g |
Xuyên Khung 4g |
Quế Chi 4g |
|
Tùng Hương 4g |
Xuyên sơn giáp 4g |
Đỗ Trọng 4g |
|
Lưu Hoàng 8g |
Độc Hoạt 4g |
Một Dược 4g |
|
Bạch Chỉ 4g |
Tạo Giác 4g |
Nhũ Hương 4g |
|
Toàn Yết 4g |
Chỉ Xác 4g |
Xạ Hương 4g |
|
Tế Tân 4g |
Hùng Hoàng 4g |
Năm 1982, Lưu-Khiết-Thanh, trong tác phẩm ‘Thái Ất Thần Châm Cứu, in tại Chicago, lại giới thiệu đến 29 dược vị như sau:
|
Cam Tùng 3g |
Nha Tiêu 1g |
Khương Hoạt 1, 2g |
Xuyên Sơn Giáp 6g |
|
Độc Hoạt 12g |
Ma Hoàng 6g |
Đinh Hương 1, 2g |
Hùng Hoàng 4, 5g |
|
Bạc Hà 6g |
Ngưu Tất 12g |
Ngải Nhung 15g |
Khiên Ngưu 6g |
|
Xạ Hương 6g |
Xuyên Ô 12g |
Nhũ Hương 12g |
Bạch Chỉ 1, 2g |
|
Tế Tân 6g |
Thảo Ô 1, 5g |
Pḥng Phong 6g |
Tam Lăng5g |
|
Một Dược 12g |
Nam Tinh 1, 2g |
Chương Năo 1, 2g |
Tần Giao 6g |
|
Lưu Hoàng 3g |
Đỗ Trọng 6g |
Giáng Hương 3g |
Quế Chi 6g |
Toàn Hạt 4, 5g
Tán bột, trộn đều. Dùng giấy rộng khoảng 10 x 20cm trải ra. Trước hết lấy Ngải Nhung trải đều lên giấy, rồi lấy Một Dược rắc đều trước mặt Ngải Nhung, quấn chặt lại, bên ngoài dùng tṛng trắng trứng gà bôi lên. Lại dán lên 1 lớp giấy, 2 đầu chừa trống khoảng hơn 1 thốn rồi vê cho thật chắc lại. Phơi trong râm cho khô, cất kỹ, để dành dùng dần.
Thực Hiện: Đánh đấu chỗ định cứu, lấy khoảng 5-7 lớp vải (màu đỏ càng tốt), đặt trên huyệt. Đốt điếu Ngải cho thấy bốc khói lên, dí nhanh vào miếng vải (có thể lấy vải bọc kín đầu mồi thuốc cho khói không thoát ra ngoài được mà chỉ thấm vào huyệt. Nếu bệnh nhân thấy nóng quá th́ nhấc bọc thuốc lên 1 ít rồi lại hạ xuống cho đến khi bọc thuốc nguội th́ lại đốt tiếp.
Tác Dụng: Phương pháp này kết hợp 2
a-Cứu Bổ: chỉ gây cho người bệnh cảm giác ấm nóng vừa đủ và dễ chịu. Phương pháp cứu gián tiếp và Thái Ất Thần Châm Cứu là phương pháp thích hợp nhất đối với cứu bổ.
Sách ‘Loại Kinh Đồ Dực’ ghi: “ Phàm khi dùng hỏa để bổ, đừng nên thổi nóng hỏa lên”.
b-Cứu Tả: làm cho người bệnh có cảm giác nóng rát. Loại cứu theo kiểu mổ c̣ và cách thổi cho cháy mạnh khi đang cứu bằng cách cứu Gừng... thích hợp cho loại cứu tả.
Sách ‘Loại Kinh Đồ Dực’ ghi : “ Phàm khi dùng hỏa để tả, nên thổi cho hỏa nóng mạnh lên”.
Thường cứu theo thứ tự sau: huyệt ở trên cứu trước, huyệt ở dưới cứu sau; Lưng trước bụng sau; kinh dương trước kinh âm sau. Trong trường hợp cấp cứu th́ cứu các huyệt cấp cưu trước , các huyệt khác cưu sau...
- Các huyệt vùng mặt da non nên dễ bị bỏng, cần hết sức cẩn thận, không được cứu thành sẹo.
- Các huyệt gần mắt, khi cứu bằng điếu ngải, phải thật cẩn thận v́ hơi thuốc dễ xông vào mắt, có thể gây tổn hại cho mắt.
- Các huyệt trên đỉnh đầu, có nhiều tóc, khi cứu cần cẩn thận v́ dễ gây cháy tóc.
- Những người âm hư hỏa vượng, cơ thể nóng sẵn...không nên dùng phép cứu. Sách ‘Thương Hàn Luận’ ghi: “Mạch Vi, Sác không nên cứu v́ có thể nhân hơi nóng đó thành tà làm cho phiền nghịch, truy hư, trục thực, huyết tan trong mạch. Hỏa khí tuy ít nhưng có sức công phạt bên trong, làm hại gân xương, huyết khó trở lại”.
- Sau khi cứu không nên tắm lạnh ngay v́ lỗ chân lông đang mở ra, dễ bị cảm lạnh. Ít nhất 1-2 giờ sau mới nên tắm.
- Sau khi cứu, nếu chỗ cứu bị phồng, dộp hoặc khi cứu trực tiếp, vết cứu sưng tấy, làm độc... Dùng Hành ta với Bạc Hà, nấu lấy nước rửa quanh vết đốt chừng 1 giờ để đuổi phong tà ra ngoài, giúp khí chạy vào trong Kinh lạc không bị nghẹt, mau lành vết thương.
Một số huyệt tài liệu xưa cấm cứu như: huyệt Á Môn (Đc.15) cứu sẽ dễ bị câm, huyệt Xích Trạch (P.5) cấm cứu v́ làm cho tay khó cử động, huyệt Thạch Môn (Nh.5) cấm cứu v́ có thể gây tuyệt sản... Những điều này cần phải hiểu rơ:
+ Huyệt Á Môn, theo cơ thể giải phẫu, ở gần vùng hành năo, nếu cứu theo kiểu cổ điển là cứu cách trực tiếp, gây bỏng, dễ nhiễm khuẩn đưa đến tổn thương hành năo ở phía dưới huyệt, nhưng nếu cứu theo kiểu hiện nay là dùng điếu ngải hơ ấm th́ chưa thấy tài lliệu nào nói đến tai biến xảy ra.
+ Huyệt Xích Trạch, theo cơ thể giải phẫu, nằm ngay vùng cơ gấp cánh tay, bên dưới lại có mạch máu, nếu cứu trực tiếp gây sẹo, có thể làm tổn thương gân cơ gấp, gây hạn chế cử động cánh tay, nhưng nếu chỉ cứu ấm, không gây thành sẹo th́ không có vấn đề ǵ cần cấm.
Các huyệt khác cũng như vậy, nghĩa là tuy tài liệu xưa ghi cấm cứu nhưng chúng ta, 1 mặt vẫn tôn trọng ư kiến của người xưa (v́ đó là những kinh nghiệm quư giá mà họ đă gặp, đă biết), tuy nhiên, cũng cần nắm vững về sinh lư giải phẫu cơ thể hiện đại (v́ đă được khoa học chứng minh) mà lư giải, cân nhắc để dưa vào xử dụng cho thích hợp, v́ nhiều huyệt sách xưa ghi cấm cứu nhưng hiện nay tài liệu mới cho biết vẫn xư dụng cứu pháp mà không có tai biến ǵ.
Để kết thúc, xin mượn lời của sách ‘Vệ Sinh Bảo Giám’: Khí không đến th́ không công hiệu, có cứu cũng không hiệu quả. V́ 12 Kinh ứng với 12 giờ, khí của 12 Kinh theo giờ của nó mà đến . V́ thế, không biết lúc nào khí huyết của Kinh lạc ứng đến nhiều ít mà cứ việc cứu th́ dù cứu cũng không phát được. Bao nhiêu thầy thuốc ở đời biết được như thế?”.
|