Y HỌC CỔ TRUYỀN - CHÂM CỨU HỌC |
|
Nguyên tắc Điều Trị Huyệt LẠCTrong Châm cứu, huyệt Lạc thường được dùng: + Rút kinh khí từ kinh đang bệnh sang kinh có quan hệ Biểu Lư với nó. + Phối hợp với huyệt Nguyên của đường kinh có quan hệ Biểu Lư để điều chỉnh rối lọan kinh khí của 2 kinh này. e- Quan Hệ Giữa Huyệt NGUYÊN - L ẠCĐặc Tính:- Nhóm Nguyên - Lạc thường nối 1 kinh Âm với 1 kinh Dương. - Khí ở các Lạc mạch thường đi từ huyệt Lạc của đường kinh đó và chuyển vào huyệt Nguyên của kinh có quan hệ Biểu Lư với nó. - Khi xử dụng cặp Nguyên - Lạc huyệt, cần chú ư đến trạng thái Hư Thực của Kinh Chính. Khi Kinh Chính bị Hư th́ đường kinh Biểu Lư với nó sẽ Thực. Do đó phải châm huyệt Nguyên của kinh bệnh và huyệt Lạc của kinh Biểu Lư với nó. - Trường hợp Hư hoặc Thực ở đây là do khí của cơ thể bị rối loạn chứ không phải do tà khí gây nên. - Nếu Hư và Thực cùng đồng thời ở cả 2 kinh có quan hệ Biểu Lư với nhau th́ khi châm huyệt Nguyên của đường kinh này, kinh khí sẽ được chuyển sang đường kinh có quan hệ Biểu Lư với nó qua huyệt Lạc. Khi châm huyệt Lạc th́ kinh khí chuyển sang kinh Biểu Lư qua huyệt Nguyên. - Trong bệnh lư về Hàn-Nhiệt, có những trường hợp ngoài (biểu) nóng mà bên trong (lư) lại lạnh hoặc ngược lại, ngoài (biểu) thấy lạnh mà bên trong (lư) lại nóng. Khi điều trị, phải làm sao rút bớt nóng ở đường kinh đang dư nhiệt đi và lại phải thêm ấm vào đường kinh đang lạnh cho phù hợp... Trong châm cứu, để điều chỉnh lại trạng thái mất quân b́nh biểu lư về hàn nhiệt này, phải sử dụng đến nhóm Nguyên - Lạc huyệt: - Tả Lạc huyệt để trục nhiệt khí của đường kinh này. - Đồng thời bổ Nguyên huyệt của đường kinh có quan hệ biểu lư với nó để đưa nhiệt khí vào. Áp dụng cụ thể vào các đường kinh ta có:1. Phế Kinha) Ngoài nóng lạnh (Biểu nhiệt lư hàn): Tả Lạc huyệt của Đại trường kinh (huyệt Thiên Lịch - Đtr.6) và bổ Nguyên huyệt của Phế kinh (Thái Uyên - P.9). b) Ngoài lạnh trong nóng (biểu hàn lư nhiệt): Tả lạc huyệt của Phế kinh (Liệt Khuyết - P.7) và bổ Nguyên huyệt của Đại Trường kinh (Hợp Cốc - Đtr.4). 2. Tâm Kinha) Ngoài nóng trong lạnh (Biểu nhiệt lư hàn): Tả Lạc huyệt của Tiểu Trường kinh (Chi Chánh - Ttr.7) và bổ Nguyên huyệt của Tâm kinh (Thần Môn - Tm.7). b) Ngoài lạnh trong nóng (Biểu hàn lư nhiệt): Tả Lạc huyệt của Tâm kinh (Thông Lư - Tm.5) và bổ Nguyên huyệt của Tiểu Trường kinh (Uyển Cốt - Ttr.4). 3. Thận Kinha) Ngoài nóng trong lạnh (Biểu nhiệt lư hàn): Tả Lạc huyệt của Bàng Quang kinh (Phi Dương - Bq.58) và bổ Nguyên huyệt của Thận kinh (Thái Khê - Th.3). b) Ngoài lạnh trong nóng (Biểu hàn lư nhiệt): Tả lạc huyệt của Thận kinh (Đại Chung - Th.4) và bổ Nguyên huyệt của Bàng Quang kinh (Kinh Cốt - Bq.64). 4. Can Kinha) Ngoài nóng trong lạnh (Biểu nhiệt lư hàn): Tả Lạc huyệt của Đởm kinh (Quang Minh - Đ.37) và bổ Nguyên huyệt của Can kinh (Thái Xung - C.3). b) Ngoài lạnh trong nóng (Biểu hàn lư nhiệt): Tả Lạc huyệt của Can kinh (Lăi Câu - C.5) và bổ Nguyên huyệt của Đởm kinh (Khâu Khư - Đ.40). 5. Tỳ Kinha) Ngoài nóng trong lạnh (Biểu nhiệt lư hàn): Tả Lạc huyệt của Vị kinh (Phong Long - Vi.40) và bổ Nguyên huyệt của Tỳ kinh (Thái Bạch - Ty.3). b) Ngoài lạnh trong nóng (Biểu hàn lư nhiệt): Tả Lạc huyệt của Tỳ kinh (Công Tôn - Ty.4) và bổ Nguyên huyệt của Vị (Xung Dương - Vi.42)... |
|