Y HỌC CỔ TRUYỀN |
|
VII.61 - BỘC THAMTên Huyệt:Huyệt có ư chỉ: khi người đầy tớ quỳ gối xuống (tham dự vào việc cởi giầy cho chủ...) th́ lộ huyệt ra, v́ vậy gọi là Bộc Tham (Trung Y Cương Mục). Tên Khác:An Tà, Bột Tham. Xuất Xứ:Giáp Ất Kinh. Đặc Tính:+ Huyệt thứ 61 của kinh Bàng Quang. + Huyệt giao hội với Mạch Dương Kiều. Vị Trí: Xác định bờ trên
mặt ngoài xương gót chân, huyệt ở sát bờ trên xương Giải Phẫu:Dưới da là gân cơ mác bên dài và gân cơ mác bên ngắn ở phía trước, gân gót chân ở phía sau, bờ trên xương gót. Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh cơ-da và dây thần kinh chầy su. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh S1. Chủ Trị:Trị gót chân đau, chi dưới yếu liệt. Phối Huyệt:1. Phối Kim Môn (Bq.63) trị trẻ nhỏ bị động kinh, điên gia?n [Mă gia?n] (Giáp Ất Kinh). 2. Phối Chí Âm (Bq.67) + Gia?i Khê (Vi.41) + Khâu Khư (Đ.40) + Khiếu Âm (Đ.44) trị gân cơ cứng (Tư Sinh Kinh). 3. Phối A Thị Huyệt + Côn Lôn (Bq.60) + Thái Khê (Th.3) + Thừa Sơn (Bq.57) trị gót chân đau (Châm Cứu Học Giản Biên). Châm Cứu:Châm thẳng 0, 3-0, 5 thốn - Cứu 3-5 tráng - Ôn cứu 5-10 phút.*Tham Khảo:“ Bệnh Điên khi mới bắt đầu phát, trước hết người bệnh bị vặn ngược, cứng đờ, cột sống cứng, bệnh biểu hiện ở các kinh Túc Dương Minh, Túc Thái Âm, Thủ Thái Âm và Túc Thái Dương, châm ở các huyệt Uỷ Dương + Phi Dương + Bộc Tham + Kim Môn, châm xuất huyết cho đến khi nào mầu huyết biến (thành đỏ) mới thôi” - Thiên ‘Điên Cuồng’ (LKhu.22, 7-8). |
|