HOÀNG PHỦ
MẬT (215 – 282) 
Tự là Sĩ An,
khi nhỏ tên Tĩnh, hiệu là Huyền án tiên sinh, người quận An Định (nay là Ninh
Hạ, Cố Nguyên), đời Tây Tấn, là nhà châm cứu học nổi tiếng đời Tấn, viết quyển
‘Châm Cứu Giáp Ất Kinh’ hiện c̣n lưu truyền. Khi c̣n nhỏ tuổi, ông theo người
chú dời chỗ ở đến Tân An (nay là Hà Nam, Miễn
Tŕ). Được gia đ́nh nuông chiều, đă 17, 18 tuổi, ông vẫn không thích học, hàng
ngày đi chơi rong.
Người ta chê
cười là thằng u mê. Người thím thấy t́nh trạng của cháu, rất đau ḷng, ôn tồn
khuyến dụ ông với mắt đầy lệ. Ông vô cùng cảm động, thề sẽ hối cải. Ông bắt đầu
học tập, nhưng v́ nhà nghèo, ông phải luôn mang sách theo ḿnh vừa cày vừa học.
Ông học Tứ Thư, Ngũ Kinh và các tác phẩm của bách gia chư tử, khắc khổ học hành
cho đến khi hơn 80 tuổi thành một học giả uyên bác, nổi tiếng trong giới văn học
và sử học. Ông đă soạn các quyển ‘Đế Vương Thế Kỷ’, ‘Cao Sĩ Truyện’, ‘Dật Sĩ
Truyện’, ‘Liệt Nữ Truyện , Huyền Án Xuân Thư và một số thi phú được nhiều người
đương thời truyền tụng. Ông sinh ra vào cuối đời Đông Hán, lớn lên ở đời Ngụy
của họ Tào, chết ở đời Tây Tấn. Không chịu ra làm quan, triều đ́nh từng nhiều
lần triệu mời ông ra làm quan nhưng lần nào ông cũng nại cớ bệnh hoạn từ chối
khéo
Năm 42 tuổi,
ông bỗng bị bán thân bất toại, điếc, thân thể đau nhức. Nhưng bệnh tật không hề
làm cho ông mất đức tin và ư chí, ông nằm trên giường bệnh nghiên cứu y học,
nghiên cứu sâu các sách ‘Tố Vấn’, Châm Kinh’, ,Minh Đường Khổng Huyệt Châm Cứu
Trị Yếu và các tác phẩm của Trương Trọng Cảnh, Vương Thúc Úroa, t́m phương pháp
trị liệu châm cứu trị chứng phong tê của ḿnh. Trải qua một thời gian dùng kim
châm, bệnh phong tê của ông giảm bớt rơ rệt, làm cho ông nảy sinh ư kiến chỉnh
lư tư liệu châm cứu. Ông tổng hợp ba bộ sách thuốc ‘Tố Vấn’, ‘Châm Kinh’, ‘Minh
Đường Khổng Huyệt Châm Cứu Trị Yếu, biên soạn thành một bộ Châm Cứu học là ‘Châm
Cứu Giáp Ất Kinh’ giúp cho nền châm cứu học xác lập được qui phạm, được chuyên
môn hóa và hệ thống hóa hơn. ‘Châm Cứu Giáp Ất Kinh’ đă lập định cơ sở cho ngành
châm cứu trị liệu học, đối với sự phát triển châm cứu học Trung Quốc, có tác
dụng thúc đẩy rất lớn.
Năm 282, ông
bệnh mất tại Triều Na, hưởng thọ 67 tuổi.
|