NGUY DIỆC
LÂM (1277 - 1347)
Nguy Diệc Lâm,
tự Đạt Trai, người Giang Tây, Nam Phong, là y học gia trứ danh đời Nguyên, cũng
là một nhân vật đại biểu cho khoa cốt thương (găy xương, trật xương) của Trung
Quốc xưa. Ông là con ,nhà năm đời theo nghiệp y, được hun đúc y học từ thuở nhỏ,
chẳng những đă kế thừa kinh nghiệm y học của cha ông mà c̣n theo học khoa ghẻ
loét với người cùng châu là Cân Trúc Giang Đông Sơn, khoa yết hầu và răng với
Lâm Xuyên Phạm Thúc Thanh, đồng thời nghiên cứu rộng khắp cổ phương (đơn thuốc
xưa) và kinh nghiệm trị liệu của các danh y đương thời, sau đó thành một y gia
có tri thức y học sâu rộng phi thường, tinh thông cả các khoa. Năm Thiên lịch
nguyên niên (1328), họ Nguy làm Giáo thụ y học ở châu Nam Phong, tiếp đó lại làm
chúc Phó đề lĩnh quan ợ ông có cảm nghĩ rằng phong thuật (phương pháp ra đơn
thuốc trị bệnh) do cha ông truyền lại là không dễ và kinh nghiệm tâm đắc của bản
thân không nên giữ kín cho ḿnh, từ năm đó bắt đầu chiếu theo danh mục 13 khoa
do thái y viện của Nguyên triều ban bố, đem kinh nghiệm về phương tễ của y
phương xưa và của gia truyền năm đời đă tích lũy, phân môn loại chỉnh lư, trải
một thời gian mười năm đến niên hiệu Chí Nguyên năm thứ ba (1337) soạn biên ra
một quyển ‘Thế Y Đắc Hiệu Phương’. Ty ‘Quan y đề cử’ ở Giang Tây gửi sách đến
‘Thái y viện’ xin thẩm duyệt. Đến niên hiệu Chí Chính năm thứ năm (1345), sách
được ấn hành.
Thế Y Đắc Hiệu
Phương’ gồm có 19 quyển là một bộ sách y tổng hợp tương đối có hệ thống. Cống
hiến trọng yếu của sách là làm sáng tỏ khoa ‘Chính Cốt Kiêm Kim Thuốc’ (sửa lưng
và kim vàng?) ghi chép rất nhiều thủ thuật trị liệu vết thương (thương khoa) và
phương tễ (thuốc) kinh nghiệm, đặc biệt là đối với xương sống (lưng) bị thương,
lần thứ nhất ứng dụng ‘phép treo lên đưa về vị trí cũ' , thành công. Đây là một
động tác được sáng chế trong lịch sử thương khoa.
Ngoài ra,
trong sách c̣n ghi thuật phép gây mê (ma túy pháp), Nguy Diệc Lâm chủ trương,
trước khi đưa xương găy hoặc sai khớp trở về vị trí, phải cho uống thuốc mê để
không biết đau, dễ thực hành thủ thuật chỉnh xương. ứng dụng phép gây mê ở Trung
Quốc là sự việc có lịch sử lâu dài. Khá tiếc là phần nhiều phương thuốc cụ thể
đă thất truyền. Thời xưa, sách vở ghi chép ở vài quốc gia khác lẻ tẻ cũng tùng
có sử dụng thuốc ma túy. Ở Nhật Bản, năm 1805, thầy thuốc trứ danh về ngoại khoa
Hoa Cương Thanh Châu đă sử dụng ‘man đà la’ (tên thảo mộc?) làm thuốc ma túy
giảm đau, đó là một loại giai thoại và một tiên lệ của thế giới ma túy sử. Trên
thực tế, Nguy Diệc Lâm sử dụng chất thuốc ma túy c̣n trước hơn nhiều ngoài man
đà la c̣n có Xuyên ô, Thảo ô, Mộc miết tử, vả lại thời điểm cũng trước cả 450
năm. Có thể nói sự ghi chép tên Nguy Diệc Lâm về ma dược ' (thuốc mê) đă được
thế giới biết là ‘Văn hiến về ma dược sớm nhất’. Ông mất năm 1347, hưởng thọ 70
tuổi.
|