TRẦN NIỆM
TỔ (1753 - 1823)
Trần Niệm Tổ,
tự Tu Viên, lại tự Lương Hữu, hiệu Thận Tu, người Phúc Kiến, Trường Lạc, Khê Mỹ,
là thầy thuốc trứ danh đời Thanh, vừa là nhà giáo dục y học. Tổ phụ của ông,
Trần Cư Lang (tự Thiên Bật) là một Nho y. Ông mồ côi cha sớm, từ nhỏ theo ông
nội học kinh sư luyện thi và học y. Ông thông minh ham thích đọc sách. Năm 24
tuổi, ông hành nghề y tự nuôi sống. V́ thời ấy, địa vị trong xă hội của thầy
thuốc thấp hèn nên ông vừa làm thầy thuốc vừa luyện thi. Niên hiệu Càn Long năm
thứ 57 (1792) ông thi Hương đỗ, năm sau đến kinh thi Hội, không đỗ, ông ở lại
kinh sư làm thầy thuốc. Lúc ấy, quan Lang trung bộ h́nh là Y Vân Lâm bị chứng
trúng phong bất tỉnh nhân sự, tay chân không cử động được, cơm canh không dùng
được đă hơn 10 ngày. Danh y ở kinh đều cho là bất trị. Ông chỉ cho uống hai
thang thuốc, cứu sống được, nổi tiếng một thời, ngày nào cũng có người đến xin
chẩn trị. Năm sau, Tể tướng Ḥa Khôn mắc bệnh đau chân, không đi chầu được. Ông
được mời đến chẩn trị. Ông lấy da chó sống đắp thuốc ở chỗ đau; trong ṿng 10
ngày, chân hết đau. Ḥa Khôn sợ bệnh tái phát, ra lệnh cho ông ở luôn tại nhà
ḿnh, phong chức Thái y viện. Ông từ tạ không nhận, mượn cớ bệnh bỏ về nhà. Thế
là mang tội với nhà quyền quư luôn hai năm không dám đến kinh thi Hội. Đến niên
hiệu Gia Khánh năm thứ 5 (1800), Tể tướng họ Ḥa làm việc sái quấy bị cách chúc,
ông mới đến kinh ứng thí. Năm Gia Khánh thứ 6, ông làm chức Bảo Dương (nay là
Bảo Định). Năm này, mưa to thành lụt. Ông đi cứu lụt ở Hằng Sơn, làm việc quá
sức, nhiễm chứng hàn nghịch cơ hồ mất mạng. Sau nhờ tự ra đơn thuốc uống mới
khỏi. Không lâu sau, vùng ấy có bệnh ôn dịch lưu hành, nhân dân v́ uống lầm
thuốc chết rất nhiều. Ông đau xót nghĩ rằng vấn đề ‘y học phổ cập’ (thuốc trị
bệnh thông thường) là cần thiết, bèn sưu tập cả 108 phương thuốc, biên soạn
thành ca quyết (bài thuốc có vần dễ nhớ), sao ra nhiều bản phát cho thầy thuốc
các nơi, theo phép chẩn trị, cứu sống rất nhiều người. Niên hiệu Gia Khánh năm
thứ 24, tuổi già, ông về quê ở vùng Tung Sơn, dựng nhà cỏ dạy học thuốc, học tṛ
rất đông. Niên hiệu Đạo Quang, năm thứ 3 (1828), vào thượng tuần tháng ba, ông
có một mụt nhọt ở bên hông phải, đau nhức như dao cắt, đến tháng tám, ăn ngủ đều
không được, ông qua đời. Ông viết rất nhiều sách. Học nghề chính tông, ông tinh
thông ‘Linh Khu’, 'Tố Vấn’, tôn sùng Trương Trọng Cảnh; ông là nhân vật điển
h́nh của phái tôn kinh sùng cổ. Ông phản đối học thuyết xét lại ‘Thương Hàn
Luận’. Để xiển dương học thuyết của Trọng Cảnh, ông biên soạn ‘Kim Quỹ Yếu Lược
Thiển Chú ',‘Kim Quỹ Phương Ca Quát’, ‘Thương Hàn Luận Thiển Chú ', ‘Trường Sa
Phương Ca Quát’, ‘Thương Hàn Chân Phương Ca Quát’, ‘Thương Hàn Y Quyết Xuyến
Giải’. Ông tự cho là có trách nhiệm kế thừa, phát huy nền y học Trung Quốc. Cả
mấy mươi năm như một ngày, ông luôn dùng văn tự thông thương dễ hiểu để giải
thích y lí xưa, sâu, kín, khó hiểu của Trung y giúp lớp người sau tiến vào ṭa
nhà y học. Ông đă cống hiến lớn lao cho nền y học cổ truyền Trung y. Ông bệnh
mất năm 1828, hưởng thọ 70 tuổi.
|