TRẦN PHỤC CHÍNH
(Không rơ năm sinh năm mất )
Trần Phục
Chính, hiệu Phi Hà, ngươi Huệ Châu (nay là Quảng Đông, Huệ Dương), sinh sống
quăng niên hiệu Khang Hi đến Càn Long (1662-1795), y gia, đạo sĩ đời Thanh. Khi
nhỏ ông theo học Dịch tượng, học thuyết Tŕnh, Chu; sau đến
La Phù Sơn xuất gia làm đạo sĩ. V́ tư nhỏ thể chất yếu, nhiều bệnh, nên lưu ư
đến y thuật, chuộng học sách y cổ điển như ‘Nội Kinh’, ‘Thần Nông Bản Thảo
Kinh’, từng vân du tứ xứ cứu nguy tế bần, hành y trên 40 năm. Ông tinh thông y
học, đối với nhi khoa càng có sở trường. Niên hiệu Càn Long thứ 15 (1750), ông
tập trung sách nhi khoa các đời, chọn nội dung thực dụng, kết hợp với kinh
nghiệm của ḿnh, biến thành bộ sách 'Ấu Ấu Tập Thành’ gồm 6 quyển nội dung bao
quát (thiên) phú (thiên) bẩm, hộ thai sản, hộ anh (nhi) và các phương pháp chẩn
đoán các loại bệnh của trẻ con, có luận có phương (thuốc), là một bộ sách trọng
yếu về nhi khoa của Trung y. Về phương diện học thuật, ông có nhiều sáng kiến.
Ông phản đối học thuyết, ‘tiểu nhi thuộc thể thuần dương’; từ trước các sách
viết về môn nhi khoa học đều có lập luận cương hữu dư, âm bất túc’ đối với tiểu
nhi, ngộ nhận anh nhi là một đoàn dương hỏa, v́ đó mà khi dùng
thuốc phần
nhiều dùng loại hàn lương làm cho thương tỳ bại vị (lá lách và dạ dày bị tổn
thương), gây nên họa hại lớn. Đời xưa, trẻ con bẩm phú đôn hậu ít bị bệnh; đời
nay trẻ con có thân thể ốm yếu, càng không nên dùng thuốc hàn lương. Cho nên ông
chủ trương tùy nghi ứng chế, chú trọng đặc biệt phép biện chứng luận trị, cực
lực phản đối lạm dụng thuốc hàn lương. Đối với phép luận thuật bệnh kinh phong
của trẻ con, cũng đề xuất kiến giải không giống với tiền nhân. Ông nhận xét
rằng, trong dĩ văng, sách nhi khoa gọi là bệnh ‘kinh phong’, trên thực tế có
loại do thương hàn gây ra là kính chứng (chứng giật tay chân), có loại do tạp
bệnh gây ra là súc chứng (tay chân co rút), có loại do tinh khí kiệt tuyệt là
thoát chứng; phép trị liệu cũng khác nhau tùy theo bệnh chứng . Nhân đó, ông
phân chia bệnh kinh phong ra làm ba loại: ngộ súc, loại súc và phi súc, luận
thuật rơ ràng, phát huy chỗ tiền nhân chưa phát huy. Ngoài ra, ông cũng có không
ít tranh nghị với tiền nhân về phép xem chỉ tay của trẻ con để định bệnh, căn cứ
trên kinh nghiệm cá nhân mà qui nạp: phù trầm phân biểu lư, hồng tử biện hàn
nhiệt, đạm trệ định hư thực. Chủ trương của ông đă được đa số y sinh lâm sàng áp
dụng. Ông lại c̣n chủ trương chớ nên khinh suất cho trẻ con uống thuốc mà nên áp
dụng phép trị tổng hợp, trị trong và trị ngoài hoặc dùng phép trị ngoài mà thôi.
Ông đề xướng việc dùng một số phép ngoại trị giản tiện, mau có hiệu lực, đến nay
vẫn có ư nghĩa hiện thực. Kiến giải độc đáo của ông về môn nhi khoa giúp ông có
một địa vị trọng yếu trong nhi khoa lịch sử Trung Quốc. Đối với sự phát triển
của khoa nhi trong nền y học Trung Quốc, ông đă có sự cống hiến nhất định.
|