TRẦN THỰC
CÔNG (1555 – 1636)
Trần Thực
Công, tự Dục Nhân, hiệu Nhược Hư, người đời Minh, Đông Hải, Thông Châu (nay là
Giang Tô, Nam Thông) là y gia trứ danh về ngoại khoa, có viết sách 'ngoại khoa
chính tông’. Ông bị nhiều bệnh từ thuở nhỏ nên để ư đọc các sách y như ‘Tố Vấn’,
‘Nạn kinh’. Đến tuổi thanh niên, ông gặp dị nhân dạy cho y thuật; sau đó, ông
dốc ḷng hết s~ học y, đặc biệt chuyên chứng oại khoa. Trải mấy mươi năm nghiên
cứu lư luận và lâm sàng thực tiễn, ông trở thành danh gia về ngoại khoa trong
đời. Đối với bệnh kỳ chúng lạ, ông thấy là biết rơ ngay, ra đơn cho thuốc luôn
luôn khỏi bệnh. Có những bệnh tà độc trong người, hầu như không có chút hy vọng
nào được sống, ông cũng giúp cho con bệnh được bớt dần rồi sau khỏi hẳn. Cống
hiến lớn lao của ông về phương diện ngoại khoa chủ yếu là nghiên cứu phép trị ở
ngoài. Ông nhận xét rằng sách vở ngoại khoa trong dĩ văng phần nhiều thiên về
phép trị ở trong, sách nào cũng xem thường tác dụng trọng yếu của ngoại trị. V́
vậy, ông dùng rất nhiều công sức để nghiên cứu sâu về mặt ngoại trị. Ông thường
dùng dao kim trừ sạch những tế bào chết nơi vết ghẻ lở, nhọt mủ; nhiệm vụ đầu
tiên là khai thông huyết quản để đưa tà độc ra ngoài. Để bài trừ nước mủ ở sâu
trong chỗ sưng thũng, ông sáng chế phép ‘Chử Bạt Giản Phương’, tức là trước dùng
thuốc nấu tẩm ống trúc, sau dùng ống trúc hút nước mủ ra, cải tiến cách rút mủ.
Khi trị liệu bệnh trĩ mũi, ông nghiên cứu chế ra công cụ thắt bỏ thịt thừa;
phương pháp của ông cơ bản cũng giống như khí cụ dùng dây siết đứt thịt thừa đời
nay. Ngoài ra, ông c̣n tiến hành thành công việc cắt tay chân, may ráp khí quản,
yết hầu và thực quản bằng kim sắt, thủ thuật chỉnh xương cằm dưới lệch khớp,
cùng với dùng thuốc tán trị liệu bệnh trĩ loét, dùng kim đất lửa trị liệu bướu,
hạch lao, dùng băng vải, bông g̣n bó buộc trị liệu lở loét ở lưng, bệnh ung
thư,... các phép ngoại khoa. Số thành tựu này ảnh hưởng sâu xa đến sự phát triển
môn học ngoại khoa của đời sau. Ông chủ trương ngoại trị, đồng thời không nhất
luật phản đối nội trị, càng không lạm dụng một cách vô nguyên tắc dùng dao, kim.
Ông nói rằng bốn chứng ‘khí cù, huyết cù, ngoan độc, kết hạch’ phải thận trọng
dùng dao, kim, nếu không có thể ra máu không cầm độc, thấy được rằng ông dùng
kim là có pháp độ nhất định. ở mặt nội trị, ông trọng phép bổ dưỡng, nhấn mạnh
tác dụng dinh dưỡng tỳ vị và ẩm thực; khi dùng thuốc phải chú ư lo bổ tỳ vị,
theo nguyên tắc ‘nội trị trọng thị bổ dưỡng’. Đutmg lối này khiến ông trở thành
người sáng thể của phái ngoại khoa chính tông, luôn được hậu thế tôn sùng. Niên
hiệu Vạn Lịch năm thứ 45 (1617), ông sưu tập các phương thuốc ngoại khoa công
hiệu từ đời Minh trở về thuốc, kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng của ḿnh trong
hơn 40 năm, biên soạn thành sách ‘Ngoại Khoa Chính Tông’. Sách này nội dung rơ
ràng, đầy đủ các phép trị ngoại khoa từ đời Đường đến đời Minh phần lớn đều độc
thu ' chép. Người sau đă đánh giá sách này là ‘liệt chúng tối tường, luận trị
tối tinh’ (ghi chép chứng bệnh rơ nhất, biện luận phép trị tất nhất). Sách này
đích xác là một bộ sách tiêu biểu của môn học ngoại khoa từ đời Minh trở về
trước ở Trung Quốc với những thành tựu vĩ đại.
Ông mất năm
1636, hưởng thọ 81 tuổi.
|