TUỆ TĨNH
(Không rơ năm sinh năm mất )
Tên thật là
Nguyễn Bá Tĩnh, hiệu Huệ Tĩnh, sau này khi đi tu, lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Quê
làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương
(nay là xă Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông sinh vào thời nhà Trần
(1225 – 1399), mồ côi bố mẹ từ lúc 6 tuổi, được các nhà sư chùa Hải Triều trong
tổng và chùa Giao Thủy Sơn Nam (nay thuộc Hà Nam) nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi
thi đậu Thái học sinh dưới triều Trần Dụ Tông, niên hiệu Thiệu Phong thứ 11
(1351) nhưng không ra làm quan. Ông ở chùa, đi tu. Năm 55 tuổi (1385) Tuệ Tĩnh
bị bắt đi cống cho nhà Minh Trung Quốc. Sang Trung Quốc ông giữ chức y tư cửu
phẩm và nổi tiếng là thầy thuốc giỏi.
Có lần ông trị
khỏi bệnh sản hậu cho hoàng hậu v́ vậy vua nhà Minh phong cho ông là Đại thiền
sư. Ông mất ở Trung quốc không rơ năm nào.
Tác phẩm của
ông để lại có hai bộ là
+ Hồng Nghĩa
Giác Tư Y Thư (do Thái y viện đời Lê Dụ Tông in năm 1717, tái bản năm 1723,
1725. Nội dung tóm tắt công dụng của 630 vị thốc, 13 phương gia giảm, có thiên
dùng thuốc theo chứng, có các thiên bàn về y lí, chẩn đoán, mạch học.
+ Nam Dược
Thần Hiệu có 11 quyển, gồm 580 vị thuốc trong nước, 3873 bài thuốc để trị 182
chứng bệnh của 10 khoa.
+ Nhân Thân
Phú.
+ Thập Tam
Phương Gia Giảm.
+ Thương Hàn
Tam Thập Thất Chủng.
Ông nổi tiếng
với câu nói bất hủ: “Nam
dược trị Nam nhân”. Ông cũng nêu lên nguyên tắc của dưỡng sinh mà ngày nay vẫn
được coi là nguyên tắc chỉ đạo trong dưỡng sinh là ‘Bế tinh, dưỡng khí, tồn
thần, thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện h́nh’.
Bài tựa quyển
sách ‘Nam Dược’ có câu: “Dục huệ dân sinh, tu tầm thánh dược. Thiên thư dĩ định
Nam bang, thổ sản hà thù Bắc quốc” (Muốn cứu dân sinh, phải t́m thánh dược.
Thiên thư đă định phận nước Nam, thổ sản có khác ǵ Bắc quốc”.
|