| |
CÁT CĂN
Xuất xứ:
Bản Kinh.
Tên gọi:
Cát là Sắn, Căn là rễ. Cây có củ như sắn nên gọi
Cát căn.
Tên Hán Việt khác:
Kê tề (Bản Kinh), Lộc hoắc, Hoàng cân (Biệt Lục),
Can cát (Diêm Thị Tiểu Nhi Phương), Lộc đậu, Lộc đậu trung, Cát đằng căn, Thiết
cái đằng, Kê tề căn (Hòa Hán Dược Khảo), Cát ma nô (Lục Xuyên Bản Thảo), Cát tử
căn (Sơn Đông Trung Dược), Hoàng cát căn (Tứ Xuyên Trung Dược Chí), Củ sắn dây
(Việt Nam).
Tên khoa học:
Pueraria thomsoni Benth.
Họ khoa học:
Họ Cánh Bướm (Fabaceae).
Mô tả:
Là cây thảo quấn, có rễ nạc, bột, có thân hơi có
lông lá có 3 lá chét, lá chét hình trái xoan, mắt chim, có mũi nhọn ngắn, nhọn
sắc, nguyên hoặc chia 2-3 thùy, có lông áp sát cả hai mặt. Hoa màu xanh lơ,
thơm, xếp thành chùm ở nách, lá bắc có lông. Quả đậu có lông dựng đứng màu vàng.
Cây trồng hoặc mọc hoang dại khắp nước ta, ra hoa vào tháng 9-10. Củ phình dài
ra có khi thành khối nặng tới 20kg ăn được.
Địa lý:
Mọc hoang, trồng khắp nơi.
Thu hái: Trồng vào tháng 3-4 đến hết tháng 11 đã có thể đào lấy củ, biến chế thành
dược liệu để bán hay dùng. Cây trồng 2 năm thì ra hoa, tháng 5-7 lúc bông (chùm)
hoa đã có 2/3 hoa nở có thể hái phơi khô bán hay dùng.
Phần dùng làm thuốc:
Dùng rễ (thường gọi là củ), hình trụ đường kính
không đều vỏ có màu trắng đục, thường cắt và bổ dọc thành từng miếng trắng
vàng.
Mô tả
dược liệu:
Rễ cát căn
thể hiện hình viên trụ không đều, vỏ ngoài màu tím nâu hoặc đỏ nâu có vết nhăn
dọc thành, dược liệu thường phiến dầy hay mỏng hình khối vuông, màu xám trắng,
hoặc màu vàng trắng có nhiều chất xơ rất dễ tước ra thành dạng sợi, phần nhiều
là màu trắng. Dùng sắc màu trắng phấn mịn là thứ tốt. Xơ nhiều, bột ít là loại
thứ phẩm.
Bào chế:
(1) Khúc củ:
Ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến (Trung Quốc) người ta đem củ về rửa sạch, lấy
dao cạo sạch lớp vỏ thô xốp ở ngoài, xong cắt thành những đoạn ngắn 13cm, xếp
vào trong vại, dùng nước muối đặc (Cứ 100 đoạn Sắn dây thì dùng 5kg muối pha với
10 kg nước), ngâm nửa ngày. Sau lại pha thêm một ít nước (ngâm nước lúc ngập củ
là được) ngâm đủ 1 tuần thì vớt ra, dùng sọt đem ra sông ngâm 3-4 giờ vớt ra rửa
sạch, phơi 2-3 ngày (Khô đi độ 6-7 phần) lại bỏ vào hòm, xông Lưu hoàng trong
hai ngày đêm, làm cho củ mềm và trong, tất cả thành màu trắng bột không có lõi
vàng nữa, thì có thể lấy đem phơi thật khô để dùng hay bán. Có lúc phải dùng
xông đi xông lại 3 lần, mỗi lần mất 1 ngày, phơi hai ngày. Qua ba lần xông ba
lần phơi như vậy rất phức tạp, lại khó xông cho củ trở thành trắng trong, theo
kinh nghiệm thì nếu loại củ nào xông một lần mà trong ruột củ trắng trong là tốt
nhất.
(2) Khoanh
củ: Ở tỉnh Tứ Xuyên, tức là sau khi gọt bóc vỏ ngoài ra, cắt thành miếng vuông
dầy 1,7-3cm, đuôi củ nhỏ chỉ cắt khúc, sau khi dùng Lưu hoàng xông thì đem sấy
khô ngay là được.
(3) Miếng
vuông: Cũng là một cách chế biến của tỉnh Tứ Xuyên, tức là sau khi gọt bóc vỏ
ngoài ra, cắt thành miếng vuông dầy (cạnh) 1,7-3cm, sau khi xông Lưu hoàng xong
đem sấy khô ngay là được.
(4) Ngoài ra
có nơi đào về bóc bỏ lớp vỏ bên ngoài, cắt thành khúc dài 8-15cm nếu đường kính
quá lớn thì bổ dọc thành 2 nửa, có khi cắt lát thành từng miếng dầy 0,5-1cm xông
Lưu hoàng 3 lần, sau đó ngày phơi nắng, tối sấy Lưu hoàng cho tới khô. Nếu muốn
lấy bột thì say nhỏ gạn lấy tinh bột lọc đi lọc lại nhiều lần rồi sấy hoặc phơi
khô.
(5) Cách chế
bột sắn dây: Cạo vỏ xay gĩa cả củ nát bấy, lọc lấy nước ở trong đổ nước lạnh vào
rồi lấy khăn mà lọc cho sạch xác, bụi bặm, đất, cát căn rồi để lắng xuống mới
gạn lọc nước trên cứ như thế mỗi ngày thay nước một lần, mỗi khi đổ nước vào một
lần phải lọc những nước đục đi, gạn lọc như thế 1 tháng đến khi nào thấy nước
trong khuấy không đục nữa thì thôi. Lọc càng kỹ bột nước mới khỏi chua, chát,
bột trắng, nhưng phải thay nước hàng ngày, bột không chua. Khi đã xong đổ bột ra
miếng vải băng để trên sạp khô phơi thành bột cất dùng.
Bảo quản:
Đậy kín nơi khô ráo. Dễ mốc mọt, tránh ẩm.
Thành
phần hóa học:
+ Puerarin,
Puerarin – Xyloside, Daidzein, Daidzin,
b-Sitosterol, Arachidic acid (Trung Dược Học).
+ Daidzein, Daidzin, Puerarin,
4’-Methoxypuerarin, Daidzein-4’, 7-Diglucoside (Chương Dục Trung, Dược Vật Phân
Tích Tạp Chí 1984, 4 (2): 67).
+ Daidzein-7-(6-O-Malonyl)-Glucoside
(Hirakura K và cộng sự, C A 1990, 112: 42557y).
+ Genistein, Formononetin,
Daidzein-8-C-Apiosyl (1®6)-Glucoside),
Genistein-8-C-Apiosyl (1®6)-Glucoside),
Puerarinxyloside, PG 2, 3’-Hydroxypuerarin PG-1, 3’-Methyoxypuerarin, PG-3
(Kinjio J và cộng sự, Chem Pharm Bull, 1987, 35 (12): 4846).
Tác dụng
dược lý:
+ Tác dụng Giải nhiệt:
. Trên súc vật thực nghiệm, nước sắc
Cát căn có tác dụng giải nhiệt mạnh (‘Nghiên Cứu Dược Lý Tác Dụng giải Nhiệt Một
Số Thuốc Trung Y’, Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1956, 42 (10): 964-967).
. Nước sắc loại Cát căn mọc ở Nhật
Bản có tác dụng hạ nhiệt đối với thỏ được gây sốt nhân tạo (Trung Dược Học).
+ Tác dụng gĩan cơ: Chất Daidzein có
tác dụng gĩan cơ ở ruột của chuột, tương tự như chất spasmaverine (Trung Dược
Học).
+ Tác dụng đối với tim mạch: Chích
chất Puerarin vào động mạch cảnh trong của chó được gây mê, thấy tăng lưu lượng
máu trong não và giảm sức đề kháng của mạch máu. Tác dụng này kéo dài khoảng 20
phút. Chích tĩnh mạch có tác dụng nhẹ hơn và không thể so sánh với hiệu quả của
Epinephrin hoặc Norepinephrine. Cát căn thường làm tăng lưu lượng máu trong não
người bị xơ vữa động mạch. Chất Tincture hoặc chất Puerarin của Cát căn làm
tăng lưu lượng máu trong động mạch vành của chó (Trung Dược Học).
+ Điều trị huyết áp cao: Dựa vào công
trình theo dõi điều trị dài ngày việc dùng Cát căn trị cổ gáy cứng, đau do ngoại
nhân, cho thấy nước sắc Cát căn có tác dụng đối với chứng gáy cứng đau do huyết
áp cao gây nên. Nước sắc Cát căn cho thấy 33% bớt các triệu chứng chủ quan, có
tiến triển đối vơi 58%. Thuốc cũng đồng thời cải thiện các triêïu chứng khác như
chóng mặt, đầu đau, tự nó không có tác dụng đối với huyết áp thấp (Trung Dược
Học).
+ Điều trị rối loạn ở động
mạch vành: Nghiên cứu dùng nước sắc Cát căn cho thấy thuốc
có một số tác dụng đối với chứng đau thắt ngực. Kết quả cho thấy 38% có cải
thiện, 42% có cải thiện điện tâm đồ. Thường các dấu hiệu cải thiện xẩy ra trong
khoảng 1 tháng. Hiệu quả không rõ lắm đối với bất cứ trường hợp giảm Cholesterol
(Trung Dược Học).
+ Dùng trong tai mũi họng: Nước sắc
Cát căn cho 33 ca điếc đột ngột uống mỗi ngày, kèm uống thêm Vitamin B complex.
Kết quả 9 ca khỏi, 6 ca có dấu hiệu tiến triển (Trung Dược Học).
+ Gĩan động mạch vành: Kết quả thực
nghiệm cho thấy, nước sắc Cát căn có tác dụng đối kháng với nội kích tố thùy
sau, gây phản ứng thiếu máu cơ tim cấp (‘Nghiên Cứu Thực Nghiệm Và Ứng Dụng lâm
Sàng Vị Cát Căn Phòng trị Bệnh Tâm Phế, Bệnh Mạch Vành và Huyết Áp Cao’, Trung
Hoa Y Học Tạp Chí 1972, 42 (10): 96-102).
+ Có tác dụng tăng lượng huyết ở não
do làm gĩan mạch não trên súc vật thực nghiệm (Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1972, 42
(10): 96-102).
+ Nước sắc Cát căn có tác dụng thu
liễm, tiêu viêm, làm gĩan co thắt của cơ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Tính vị:
+ Vị ngọt, tính bình (Bản Kinh).
+ Không độc,
nước cốt rễ dùng sống rất hàn (Biệt Lục).
+ Vị ngọt,
cay, tính bình, không độc (Bản Thảo Cương Mục).
+ Vị
ngọt, cay, tính mát (Trung Dược Học).
+ Hoa có vị
ngọt tính bình (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Vị cay,
ngọt, tính bình (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Qui kinh:
+ Vào kinh
Vị, Phế (Bản Thảo Tân Biên).
+ Vào kinh
Vị, Tỳ (Bản Thảo Cầu Chân).
+ Vào kinh
Tỳ, Vị (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Vào kinh
Vị, Bàng quang, Tỳ (Yếu Dược Phân Tễ).
+ Vào kinh
Tỳ, Vị (Trung Dược Học).
+ Vào kinh
Vị, Bàng quang (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Tác dụng:
+ Tán
nhiệt, giải biểu, tuyên độc thấu chẩn, đồng thời có tác dụng sinh tân dịch, chỉ
khát, giải co giật, chỉ tả. Hoa có tác dụng giải độc của rượu (Trung Quốc Dược
Học Đại Từ Điển).
+ Giải cơ,
thoái nhiệt, thăng đề Vị khí (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Chủ trị:
+ Trị chứng
biểu nhiệt, sởi thời kỳ đầu ra không hết, tiêu chảy (Nướng dùng hiệu quả nhanh
hơn), trước trán đau, gáy vai cứng đau (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị tà ở
kinh Dương minh, chỉ nóng, không lạnh hoặc gáy cứng, sau lưng cứng, hoặc Thái
dương + Dương minh hợp bệnh gây nên gáy cứng, bệnh Thái dương dùng phép hạ lầm
gây nên tiêu chảy có kèm nhiệt hoặc sởi muốn mọc mà không mọc được, phần cơ
nóng mãi không hạ (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Liều
dùng:- Dùng từ 4 – 40g.
+ Cát
căn dùng sống có tác dụng phát hãn giải nhiệt, dùng sao có tác dụng chỉ tả (gọi
là Ổi cát căn).
Kiêng kỵ:
+ Âm hư hỏa vượng, thượng thực hạ hư:
cấm dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Âm hư, hỏa
vượng hoặc sốt nóng mà sợ lạnh: thận trọng khi dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Đơn thuốc
kinh nghiệm:
+ Trị tổn
thương gân đến nỗi ra máu: Cát căn gĩa lấy nước uống, dùng khô thì sắc mà uống
còn bã đắp nơi đau (Ngoại Đài Bí Yếu Phương).
+ Trị say
rượu không tỉnh:Cát căn sống uống 2 thăng, đái ra thì lành (Thiên Kim Phương).
+ Trị đau
nhức vùng thắt lưng: Cát căn sống nhai nuốt nước cho đến khi khỏi (Trửu Hậu
Phương).
+ Trị uống
thuốc quá liều: Cát căn sống, gĩa ép lấy nước cốt uống, nếu dùng khô thì sắc
uống (Trửu Hậu Phương).
+ Trị trúng
độc các loại thuốc, ngộ độc sinh ra bứt rứt, bồn chồn, phát cuồng, nôn mửa: Cát
căn sắc uống (Trửu Hậu Phương).
+ Trị thời
khí có nhức đầu sốt cao: Cát căn sống, rửa sạch, gĩa nát lấy một chén nước lớn,
một chén Đậu xị, sắc còn 6 phân, bỏ bã, chia uống cho ra được mồ hôi thì tốt,
nếu chưa ra mồ hôi, uống tiếp. Nếu tâm nhiệt thêm Kha tử nhân 10 hạt (Thánh Huệ
Phương).
+ Trị tích
chướng khí nóng độc: Cát căn tươi gĩa vắt lấy 1 chén nước nhỏ uống để khử khí
nhiệt độc (Thánh Huệ Phương).
+ Trị trẻ
nhỏ nhiệt khát lâu ngày không hết: Cát căn 20g, sắc uống (Thánh Huệ Phương).
+ Trị chảy
máu mũi không cầm: Cát căn sống, gĩa ép lấy nước uống 3 lần thì khỏi (Thánh Huệ
Phương).
+ Trị thương
hàn đau đầu, phát sốt 2-3 ngày: Cam thảo 200g, Hương kỷ 1 thăng, nước tiểu trẻ
con 8 tháng, sắc làm 3 thang, chia 3 lần uống, đồng thời ăn cháo hành cho ra mồ
hôi (Mai Sư Phương).
+ Trị vết lở
do cọp vồ: Cát căn sống sắc nước đặc rửa, bên trong uống bột Cát căn, mỗi lần
20g, ngày đêm 6 lần (Mai Sư Phương).
+ Trị nhiệt
độc hạ huyết do ăn thức ăn nóng sinh ra: Cát căn 2 cân sống, gĩa ép lấy nước
một thăng, bỏ vào một ít nước Liên ngẫu (Ngó sen) để uống (Mai Sư Phương).
+ Trị các
loại thương hàn khó phân biệt, thì chỉ dùng bài này thì trị được cả những bệnh
thiên hành thời khí, làm nhức đầu, nóng sốt, mạch Hồng: dùng Cát căn 160g, nước
lạnh 2 tô, bỏ Đậu xị một thăng, sắc còn nửa thăng thêm vào một tí gừng lại càng
tốt (Thương Hàn Loại Yếu Phương).
+ Trị có
thai mà sốt: dùng nước cốt sắc Cát căn 2 thăng chia 3 lần (Thương Hàn Loại Yếu
Phương).
+ Đề phòng
nhiệt bệnh do gió độc đưa đến lây lan: bột Cát căn 2 thăng, Sinh địa 1 thăng,
Hương kỷ 1/2 thăng, tán bột, uống với nước cơm sau khi ăn, ngày 3 lần, có bệnh
uống 5 lần (Thương Hàn Luận Phương).
+ Trị phiền
táo nóng khát: bột Cát căn 160g, trước hết lấy nước tẩm gạo tấm cám nửa thăng 1
đêm, vớt ra rồi đổ nước khác vào, khuấy đều, nấu chín, trộn bột Cát căn vào ăn
(Thực Y Tâm Kính Phương).
+ Trị ọe
khan không dứt: Cát căn sống, gĩa nát, uống lấy nước một bát là hết (Thực Y
Tâm Kính Phương).
+ Trị trẻ
nhỏ nôn mửa, sốt cao, khi ăn bị kinh giản: bột Cát căn 80g, sắc còn 2 chén, trộn
đều, chưng cách thủy ăn như cháo (Thực Y Tâm Kính Phương).
Trị tâm
nhiệt mửa ra máu không cầm: Cát căn tươi, gĩa vắt lấy nước cốt nửa thăng, uống
vào là hết (Quảng Lợi Phương).
+ “Cát Căn
Thang” trị thương hàn tà nhập vào kinh Vị, Ôn bệnh, tà nhiệt, nhức đầu, khát
nước, bồn chồn, khô mũi, khó ngủ, trằn trọc, nếu khát nước nhiều, nôn mửa nhiều
thêm Thạch cao, Mạch môn đông, Tri mẫu, Trúc diệp, Thang “Cát Căn Thăng Ma Thăng
Thang” trị sởi mới phát lấm tấm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Cát căn
kết hợp với thuốc bổ thận ích tinh làm hoàn thì có tác dụng bổ âm làm mau có con
(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Cát căn
hợp với Thăng ma vào trong những thuốc thăng dương tán hỏa, thăng dương trừ
thấp, thăng dương ích vị, thanh thử ích khí, bổ trung ích khí (Trung Quốc Dược
Học Đại Từ Điển).
+ Trị cảm
mạo, lạnh ít nóng nhiều, nhức đầu, tay chân bải hoải, đau mắt, khô mũi, xót xa
không ngủ, đau hố mắt, mạch Vi Hồng: Sài hồ 4g, Cát căn 8g, Khương hoạt, Bạch
chỉ, Hoàng liên, Thược dược mỗi thứ 4g, Cam thảo, Cát cánh mỗi thứ 2g, Thạch cao
8g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 2 trái, sắc uống (Sài Cát Giải Cơ Thang - Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị viêm
ruột cấp tính, lỵ, mình sốt bứt rứt: Cát căn 12g, Hoàng cầm 12g, Hoàng liên 4g,
sắc uống (Cát Căn Hoàng Cầm Hoàng Liên Thang - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược
Thủ Sách).
+ Trị sởi
mới phát hoặc chưa mọc ra hết: Cát căn 12g, Ngưu bàng tử 12g, Kinh giới 12g,
Thuyền thoái 4g, Liên kiều 16g, Uất kim 8g, Cam thảo 4g, Cát cánh 8g. Sắc uống
(Cát Căn Thang - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị sốt
mới bắt đầu, khát nước, nóng nảy, bực dọc: Cát căn 12g, Sinh thạch cao 20g, Tri
mẫu 8g, Cam thảo 8g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị trẻ
nhỏ viêm tủy xám, gáy lưng co quắp: Cát căn 8g, Thạch cao 8g, Kim ngân hoa 4g,
Hoàng cầm 4g, Ngô công 2 con, Toàn yết hai con, Bạch thược 4g, Hoàng liên 2,8g,
Cam thảo 2g (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị huyết
áp cao, cổ cứng đau: Cát căn 20g sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
Tham
khảo:
. Cây sắn
dây cho hoa gọi là Cát hoa, có vị ngọt bình, không độc, có tác dụng giải độc của
rượu, trường phong hạ huyết uống với bột ‘Tiểu đậu hoa’ với rượu thì không say
(Danh Y Biệt Lục).
. Cát căn có
đặc tính giải được các vết độc của Sắn (khoai mì), Ba đậu và các loại ngộ độc
khác (Lôi Công Dược Bối).
. Cát căn
trị được chứng bệnh thời hành do thiên thời có nôn mửa. Có tác dụng khai vị,
giải độc rượu (Dược Tính Bản Thảo).
. Người bị
chó dại cắn có độc, đâm Cát căn sống uống rất hay, nếu không có tươi, dùng bột
trộn nước giếng rịt vào chỗ bị thương (Tân Tu Bản Thảo Ddôf Kinh).
. Bột Cát
căn làm khỏi khát, thông được đại tiểu tiện, giải được độc của rượu, trị nóng
nảy bồn chồn trong người, chế ngực được độc của Đan thạch, gĩa nát ép lấy nước
uống trị trẻ con sốt (Khai Bảo Bản Thảo).
. Bột Cát
căn tán được uất hỏa (Bản Thảo Cương Mục).
. Cát căn
chữa được chứng nhức đầu vì nóng, giải được nhiệt ở cơ biểu làm khỏi khát, sởi
mới phát, làm đậu dễ mọc, giải độc tỉnh táo (Bản Thảo Thông Nguyên).
. Cát căn vị
cay đắng khí bình, tính thăng phát, nó nhập kinh Túc dương minh Vi, nó cổ động
cho Vị khí, sinh tân chỉ khát, nó cũng nhập được Tỳ kinh nên khai thông tấu lý
làm ra mồ hôi, giải cơ biểu và bớt nóng nảy, nhưng phải để ý Cát căn khi nào gặp
nhức đầu như búa bổ đó là truyền vào Dương minh kinh thì có thể dùng được, nếu
chưa truyền vào tới Dương minh mà lại dùng nó là tự dẫn tà nhập vào trong, không
được dùng lúc ấy. Vì dương minh kinh chủ về cơ nhục mà dùng Cát căn khai thông
cơ nhục, tất nhiên tân dịch theo nó ra ngoài thì e rằng dạ dầy càng bị khô ráo
mãi, đến nỗi phần âm phải tuyệt vong sao? Nhưng những chứng đậu sởi còn chưa
phát thì có thể dùng nó mà thăng đê, người say rượu giải rượu đó mà cho tỉnh,
người có hỏa uất thì dùng nó cho tiêu tan đi, nhưng phải xét kỹ khi khỏi bệnh
không được dùng nó quá lâu làm tổn thương tới vị khí (Bản Thảo Cầu Chân).
. Cát căn
chủ về đưa lên, có vị ngọt tác dụng chính là làm tiêu tan tà ở biểu, dùng 2-12g
có thể chữa được bệnh trong cơ nhục, mỡ, thớ thịt làm ra mồ hôi. Đó là vị thuốc
thuộc về Túc dương minh Vị kinh chữa được chứng thương hàn phát sốt, cổ khô, mũi
khô đau nhức mắt, mất ngủ sốt rét, báng tích nhiệt độ cao. Vị thuốc Ma hoàng, Tử
tô luôn chữa những bệnh ở ngoài biểu nhưng Cát căn là vị chuyên về giải cơ mà
thôi, có vị ngọt khí mát nên cổ động và vỗ về Khí Vị, và lại Tỳ chữa về cơ nhục
lại làm chủ cả tay chân, nếu như dương khí bị uất trong tỳ vị giống như chứng ở
biểu, ăn uống bình thương nhưng có điều là tay chân cơ nhục nóng như lửa thì
dùng nó cũng như Thăng ma, Sài hồ, Phòng phong, Khương hoạt, theo những tễ thăng
dương tán hỏa, thanh cơ thoái nhiệt, đó là phương pháp của tiết lập trai là
những phương thuốc thánh thường dùng. Nếu gặp chứng đứt tay, trúng gió đến nỗi
cấm khẩu, không ăn uống được thì đâm nước cốt Cát căn với Trúc lịch đổ vào thì
tỉnh ngay, nếu không có tươi thì dùng khô với rượu cũng được. Các chứng đậu
sang, chẩn độc, khó mọc ra được dùng nó để phát ra cũng là những phương thường
được hay dùng (Biện dược chỉ nam).
. Cát căn
khí vị đạm bạc, chất nhẹ, lỏng lẻo không chắc chắn như các vị khác, nó sinh ra
lúc mùa xuân, mọc dây leo rất nhanh nên tính nó hay thăng phát ra những khí
thanh dương tỳ Vị. Theo bài luận về chứng thương hàn đều cho nó là Vị chủ về
dược khí của kinh Dương minh, bởi chính ở chỗ đó là chỗ biểu tà uất ở ngoài.
Dương khí của vị không thể tán ra để ban bố đi được, nên phải dùng nó nhờ tính
nhẹ nhàng để dâng lên, nó sẽ làm cho động nhẹ vào khí thanh dương để chế ngực
được ngoài hàn, đó là do sự biểu tà giải được thì vị dược được thư thái mới phát
ra được. Vì vậy mà Cát Căn Thang trong đó có Ma hoàng thì lại càng rõ ràng chính
nó lại là vị thuốc của Dương minh kinh, biểu tà là chủ chốt ở đó chứ không phải
nó chuyên giữ về chứng lý nhiệt của kinh Dương minh đâu. Vị này Trương Trọng
Cảnh đã có bàn về cách dùng Bạch Hổ Thang chứ không phải là Cát Căn Thang hoàn
toàn tuyệt đối. Cho nên mặc dù nó hay thật nhưng phải dùng đúng trong trường hợp
nào thì mới toàn diện vậy (Bản Thảo Quát Yếu Thi).
+ Cát căn
thứ nào cũng chỉ chữa ở một kinh Dương minh. Đông Viên nói: Cát căn cổ vũ Vị
khí, làm thánh dược chữa chứng hư tả, phong dược phần nhiều là táo. Cát căn
chuyên về chỉ khát ở Vị, nó có tác dụng làm thăng đề Vị khí bị hạ hãm, đem lên
tới phế kim để sinh thủy vận. Ma hoàng là thuốc chữa bệnh ở kinh thái dương,
kiêm vào Phế kinh, Phế chủ da lông. Cát căn là thuốc chữa bệnh ở kinh Dương
minh, Tỳ chủ da thịt, tuy cùng có tác dụng phát tán nhưng hướng đi vào của nó là
khác nhau (Dược Phẩm Vậng Yếu).
. Cây còn
cho lá gọi là Cát căn diệp trị cầm máu do vết dao, đắp vào, hoặc gĩa nát tươi
uống nước còn bã đắp nơi chỗ rắn cắn. Cây còn cho dây bò dưới đất gọi là Cát căn
man trị viêm họng cấp tính, viêm thanh quản cấp tính, đốt cháy tán bột uống với
nước. Cho bã gọi là Cát căn xác hay Cát căn xác có vị ngọt, tính bình không độc
trị lỵ, giải độc rượu. Cho dây gọi là Cát căn đằng có tác dụng tiêu sưng, trị
nhọt lở, viêm họng thanh quản, sưng núm vú, trẻ con cấm khẩu (Trung Quốc Dược
Học Đại Từ Điển).
+ Cát căn
dùng sống có tác dụng giải cơ nhiệt, sinh tân dịch, dùng nướng thì kích thích Vị
khí đi lên. Muốn hạ sốt, nên dùng sống; Muốn cầm tiêu chảy, nên nướng lên (Đông
Dược Học Thiết Yếu).
+ Hoa Cát
căn giải được say rượu. Nước Cát căn sông giải được ôn độc (Đông Dược Học Thiết
Yếu).
Phân
biệt:
(1) Ngoài
loài Sắn dây gọi là Phấn cát vừa miêu tả ở trên ra, còn có 3 loài Sắn dây dưới
đây, củ cũng giống để làm thuốc.
a. Sắn dây
để ăn (Pueraria edulis Pamp) là cây dây leo. Lá dài hình đầu mũi tên, lá đơn
không nứt khía, cuống hoa và thân cây không có lông, lông trên cuống lá và quả
rất ít. Có ở các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc).
b. Sắn dây
Nga mi (Pueraria ometensis Tang et Wang) cây lá đơn hình trứng rộng lệch, đuôi
lá hình tròn trứng lộn ngược, rộng hay gần như hình tròn, gần cuống lá hình tròn
không có răng cưa, trên lá có lông cứng màu trắng và ngắn. Có ở Vân Nam, Tứ
xuyên (Trung Quốc).
c. Pueraria
pseudo – hirsuta Tang et Wang: Là loại cây dây leo, rễ củ to dài, sống nhiều
năm. Thân có thể dài trên 10m. Cả cây có lông thô màu nâu vàng. Củ rễ to dầy,
nhiều bột. Lá mọc cách có cuống dài, lá kép 3, cuống lá đơn đầu khá dài, phiến
lá hình tròn có cạnh ở gốc lá, có khi nứt thành 3 chẻ sóng, dài độ 20cm, rộng
7-22cm, đầu lá nhọn, gần cuống hình tròn, 2 mặt đều có lông mềm, ngắn, màu
trắng, mặt sau mọc dầy hơn, phần lá hai bên nhỏ hơn, hình bầu dục củ ấu dẹt, dài
7-18cm, rộng 5-13cm, có lúc chẻ nông hình sóng 1-3. Hoa mọc chùm, mọc ở nách lá,
cuống chùm hoa có lông màu trắng vàng, hoa mọc dầy, bao hoa hẹp, thường rụng
sớm, bao hoa đơn hình kim, phình giữa, tràng hoa hình bướm, màu tím lam hoặc
tím, dài 17-10cm, đài có 5 cánh, cánh đài hình kim phình giữa, bên trên 2 chiếc
mọc chụm, bên dưới 1 hình dài, cánh cờ gần như hình tròn hay hình tròn trứng,
đuôi hơi lõm, có hai tai ngắn, cánh hình bầu dục hẹp, ngắn hơn cánh cờ, thông
thường chỉ một bên có tai, có 10 nhị đực, vòi hoa cong bầu nhỏ, quả bế hình dài,
dẹt dài 7-10cm, ngang 7-10mm, đuôi quả nhọn, có mọc lông cứng dài màu nâu vàng
hay đậm. Hạt hình trứng dẹt, vỏ màu nâu tươi, nhẵn bóng láng. Có hoa từ tháng
4-8, quả 8-10. Hoa gọi là Cát căn hoa.
(2) Ngoài ra
ở Trung Quốc còn có các loài Sắn dây dưới đây: Sắn dây dai lông vàng (Pueraria
calycyna Frach), sắn dây Oa sư (P.Wallichii Dc), Sắn dây Vân Nam (P.
Pedurcularis Grah) Sắn dây giả 3 khía (P. Phaseeotoides Benth), Sắn dây hoa đẹp
(P.Eùlegans Wang Et Tang)...Cũng là loại cây thuộc giống Sắn dây, củ có thể làm
dược liệu dược hay không cần phải nghiên cứu thêm.
(3) Ở Việt
Nam còn có dây sắn dây rừng (Pueraria Montaba (Lour) Merr = P.Tonkinensis
Gagnep) là cây bụi quấn, leo cao có cành hình trụ về sau có rãnh. Lá kép lông
chim 3 lá chét, lá chét hình trái xoan rộng mép nguyên, gốc tròn, chóp nhọn sắc,
mặt lá nhất là mặt lá có lông màu hung. Cụm hoa ở nách, thành chùy dạng chùy
hay không, mang nhiều hoa. Cuống chung, có lông mềm hay lông lên màu vàng, lá
bắc và lá bắc con hình trái xoan nhọn, có vằn, giống nhau. Hoa màu tím không
cuốn. Đài có lông màu hung. Cánh có hình mắt chim có tai ngắn, cánh bên rất
hẹp, và có tai nhọn, cánh thìa ngắn hơn cánh bên nhưng rộng gấp đôi. Nhị 1 bó.
Bầu hơi có lông. Ra hoa từ tháng 4-5 tới 9. Mọc hoang ở nước ta củ có thể làm
dược liệu dược không, còn nghiên cứu (xem: Dã cát) (Danh Từ Dược Học Đông Y).
| | |