DIÊN HỒ SÁCH

Xuất xứ:
Khai Bảo Bản Thảo.
Tên Việt Nam:
Diên hồ sách, Huyền hồ sách.
Tên Hán Việt khác:
Huyền hồ sách, Nguyên hồ sách, Khuê nguyên hồ,
Sanh diên hồ, Sao diên hồ, Huyền hồ sách, Vũ hồ sách, Trích kim noăn (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).
Tên khoa học:
Corydalis ambigua Champ et Schlecht.
Họ khoa học:
Papaveraceae.
Mô tả:
Cây thảo sống nhiều năm, tự sinh ở nơi sơn dă,
dưới đất có rễ củ h́nh cầu, thân nhỏ yếu, cao chừng 0,5m, lá mọc đối có mép
nguyên, hoa nở vào mùa xuân ở cuối thân cây, màu hồng nhạt hoặc hoa đỏ màu tím,
hoa h́nh môi gồm 1 mặt há ra, sắp xếp thành chùm.
Phân biệt:
Có nơi dùng Diên hồ sách bằng củ của rễ cây
Corydalis ternata Nakai.
Địa lư:
Có ở Triết Giang, Phúc Kiến, Nhiệt Hà, loại sản
xuất ở Ninh Ba, Kim Hoa, Hàng Châu thuộc Triết Giang là loại tốt. Cây này chưa
thấy ở Việt Nam.
Thu hái, sơ chế:
Sau tiết lập xuân đào củ rửa sạch phơi nắng
cất dùng.
Phần dùng làm thuốc:
Củ rễ (Corydalistuber).
Mô tả dược liệu: C
ủ rễ khô thể hiện h́nh cầu dẹt không nhất định,
đường kính dài từ 1-1,5cm mặt ngoài màu vàng đất hoặc vàng tươi, mặt trên có sẹo
dính với thân cây biểu hiện của một hơm cạn, cuối cùng của mặt dưới thường có
2-3 nhánh rănh hay chia ra làm 3 phần. Toàn thể phân bố đầy những lằn nhăn ngang
cong queo, đồng thời ở giữa có những vết lằn ngang tương đối sâu hoặc lơm xuống,
củ cứng chắc màu vàng ánh, vỏ nhăn nheo không mốc mọt là loại tốt.
Bào chế:
1. Bỏ hết
tạp chất, cho vào nồi đổ giấm vào (Cứ 10 kg Diên hồ sách th́ dùng 2kg giấm) đun
nhỏ lửa cho giấm cạn hết. Phơi khô lúc dùng tán bột, tẩm rượu hay muối tùy theo
từng trường hợp.
2. Bỏ tạp
chất rửa sạch để ráo nước, gĩa nát, phơi khô dùng sống. Hoặc đem tẩm với dấm
(20%) sao qua (cách này thường dùng).
Bảo quản:
Để nơi khô ráo. Sấy hơi Diêm sinh để pḥng mọt.
Cách dùng:
Tẩm với rượu có tác dụng hành huyết. Tẩm giấm có
tác dụng giảm đau. Dùng sống có tác dụng phá huyết, muốn điều huyết th́ sao
vàng.
Tính vị: Vị cay hơi đắng, khí ấm.
Qui kinh: Vào kinh Phế, Can, Tỳ.
Tác dụng:
Hoạt huyết, tán ứ, lợi khí chỉ thống.
Chủ trị:
+ Trị đau
bụng trên, thóat vị bụng dưới, đau vùng tim, đau nhức do chấn thương, Kinh
nguyệt không đều, ứ kinh kết khối trong bụng.
Liều dùng:
4,5-9g
Kiêng kỵ:
Có kinh trước kỳ, người hư huyết. Có chứng băng
huyết, rong kinh, sản hậu, huyết hư, chóng mặt th́ không nên dùng. Kỵ thai.
Đơn thuốc
kinh nghiệm:
+ Trị ho bất
luận ǵa hay trẻ: Diên hồ sách 1 lượng, 2,5 chỉ khô phàn tán bột, mỗi lần uống
6g với 1 cục kẹo mạch nha ngậm nuốt từ từ (Nhân Tồn Đường Phương).
+ Trị chảy
máu cam: bột Diên hồ sách gói trong bông sạch nhét trong lỗ tai, hễ máu chảy bên
phải th́ nhét bên trái và ngược lại (Phổ Tế Phương).
+ Trị tiểu
ra máu: 1 lượng Diên hồ sách, 7,5 chỉ Phác tiêu, tán bột, mỗi lần uống 4 chỉ
sắc uống (Hoạt Nhân Thư Phương).
+ Trị tiểu
tiện không thông: dùng “Niệp đầu tán” trị trẻ con tiểu không thông, dùng Diên hồ
sách, Xuyên luyện tử, 2 vị bằng nhau tán bột lần uống nửa chỉ đến 1 chỉ với nước
sôi cho vào vài giọt dầm mè (Tiểu Nhi Chân Quyết Phương).
+ Trị đau
phần ngoài do khí và khí kết khối: Diên hồ sách tán bột với tụy tạng heo, xắt ra
từng miếng, nấu chín, chấm bột thuốc ăn (Thắng Kim Phương).
+ Trị đau
tim do nhiệt quyết, khi đau khi không, lâu ngày khó trị, ḿnh nóng chân lạnh:
Huyền hồ sách bỏ vỏ, dùng thịt quả Kim linh tử, 2 vị bằng nhau tán bột uống với
rượu nóng hoặc nước sôi lần 2 chỉ (Thánh Huệ Phương).
+ Trị bệnh
khí huyết của đàn bà, quặn đau trong bụng, kinh nguyệt không đều: Huyền hồ sách
bỏ vỏ sao giấm, Đương quy tẩm rượu sao mỗi thứ 1 lượng, Quất hồng 2 lượng tán
bột trộn rượu, nấu viên hồ làm bằng hạt ngô đồng, lần uống 100 viên lúc đói với
nước dấm sắc, uống trung với Ngải cứu (Phổ Tế Phương).
+ Trị các
loại đau sau khi sinh. Hễ sau khi sinh đẻ, những ô uế trong người chưa ra sạch,
bụng căng đầy và huyết vận sau khi sinh, tức cứng ở tim hoặc sốt rét không dứt
hoặc bứt rứt, bồn chồn, tay chân hâm hấp nóng, khí lực muốn hết. Các chứng ấy
đều có thể dùng Diên hồ sách sao nghiền uống với rượu, mỗi lần 6g (Thánh Huệ
Phương).
+ Trị trẻ
con đau quặn trong ruột: Diên hồi sách, Hồi hương, 2 vị bằng nhau, nghiền sao,
uống lúc đói với nước cơm (Vệ Sinh Gia Giảm Phương).
+ Trị sán
khí (thoát vị) nguy cấp: Huyền hồ sách sao muối, Toàn yết bỏ phần độc, dùng
sống, 2 vị bằng nhau tán bột, mỗi lần uống 1,5g lúc đói với rượu muối (Trực Chỉ
Phương).
+ Trị đau
đầu một bên hoặc giữa đầu chịu không nổi dùng Huyền hồ sách 7 củ, Thanh đại 2
chỉ, Trư nha tạo giác 2 trái bỏ vỏ hạt tán bột trộn nước làm viên như hạt Hạnh
nhân lớn. Khi dùng lấy một viên hoà nước gịo vào mũi bệnh nhân, đau bên nào giọt
bên ấy, đồng thời trong miệng ngậm 1 đồng tiền bằng đồng khi có nhiều nhớt nhăi
chảy ra th́ bớt (Vĩnh Loại Kiềm Phương).
+ Trị té ngă
từ trên cao rơi xuống, làm đau nhức gân cốt, dùng Diên hồ sách nghiền bột, uống
với rượu đậu lần 2 chỉ ngày 2 lần (Thánh Huệ Phương).
+ Trị đàn bà
đau bụng do khí ngưng huyết trệ dùng ‘Diên Hồ Sách Tán’ gồm Diên hồ, Đương quy,
Xuyên khung, Quế tâm, Mộc hương, Chỉ xác, Xích thược, Đào nhân, Địa hoàng (Phụ
Khoa Phương).
+ Trị đau ở
vùng vị quản: Diên hồ sách, Ngũ linh chi, Nga truật, Cao lương khương, Đương quy
(Dũ Thống Tán - Thẩm Thị Tôn Sinh).
+ Trị đau
bụng do bế kinh: Diên hồ sách, Đương quy, Thược dược, Hậu phác mỗi thứ 3 chỉ,
Tam lăng, Nga truật, Mộc hương mỗi thứ 1,5 chỉ. Sắc uống (Diên Hồ Sách Thang -
Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị đau
bụng có kinh: Diên hồ sách (sao rượu) 2 lượng, Hương phụ (sao dấm) 4 lượng. Tán
bột lần uống 2 chỉ với rượu nóng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị loét
dạ dầy tá tràng, các chứng đau nhức do viêm dạ dầy, đau thần kinh chức năng dạ
dầydo khí trệ hoặc kiêm ứ huyết sinh ra: Diên hồ sách 9 phần. Thiên tử 1 phần
tán bột lần uống 3 chỉ, ngày 2-3 lần, uống với nước (Thống Kinh Tán - (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị đau
nhức thần kinh mặt Diên hồ sách, Xuyên khung, Bạch chỉ mỗi thứ 5 chỉ, Thương nhĩ
tử 3 chỉ sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tham
khảo:
1. Diên hồ
sách chủ thận khí, phá sản hậu ác lộ hoặc chứng đau bụng dưới của đàn bà, kết
hợp với Tam lăng, Miết giáp, Đại hoàng tán bột lại càng tốt (Hải Dược Bản Thảo).
2. Diên hồ
sách đuổi trừ được phong, trị khí, làm ấm được lưng và chân, khỏi chứng đau bụng
và đau lưng, phá được bỉ tích như nổi ḥn nổi cục trong bụng, huyết ứ và có thể
làm cho hư thai (Chư Gia Bản Thảo).
3. Diên hồ
sách trị được chứng tâm khí, làm giảm đau ở bụng dưới (Thang Dịch Bản Thảo).
4. Diên hồ
sách có thể làm được huyết trệ trong khí hoặc khí trệ trong huyết, v́ vậy chuyên
trị được chứng bệnh đau nhức toàn thân, thông lợi tiểu tiện (Bản Thảo Cương
Mục).
5. Diên hồ
sách vị cay khí ấm, không độc, nhập vào kinh Túc quyết âm. Cũng nhập vào kinh
thủ thái âm. Khí ấm th́ có thể làm cho tất cả được điều ḥa nhờ vào chỗ điều ḥa
đó mà khí lưu hành thông thương tới các cơ quan được. Vị cay cho nên có thể
nhuận mà tẩu tán được, khi nó tẩu tán th́ huyết phải hoạt bát lưu lợi. Khi khí
đă lưu hành huyết đă trơn tru th́ có thể phá được những ứ đọng của các chứng
bệnh sản hậu vậy (Bản Thảo Kinh Sơ).
6. Diên hồ
sách được khí trệ ở trong huyết, huyết trệ ở trong khí chi nên hễ những chứng
kinh nguyệt không đều, đau tim bụng đột ngột, đau căng bụng dưới, thai không
xuống, nổi ḥn, nổi cục đau đớn huyết vận huyết sung sau khi sinh, tổn thương do
chấn thương, chẳng kể là huyết hay khí tích lại ở đó mà không tan đi được, cần
phản dùng vị này mới có thể thông đạt được...Những người bệnh quá suy nhược cần
phải uống kết hợp thêm với thuốc bổ, c̣n không th́ chỉ hao hại thêm mà không có
ích lợi ǵ hết vậy (Bản Thảo Cầu Chân).
7. Diên hồ
sách hành được huyết trệ trong khí, khí trệ trong huyết, chữa được mọi chứng đau
khắp cả người, trên cũng như dưới, thường dùng 1 ḿnh th́ công hiệu nhiều, cho
nên trong thuốc điều kinh hay dùng đến nó. Nhưng không có công bổ khí, lại thiếu
nuôi dưỡng vinh huyết, chỉ nhờ tính cay ấm mà công vào chỗ ngừng đuổi được cái
trệ, cho nên đối với người hư chứng th́ nên dùng nó với thuốc bổ, bằng không chỉ
làm tổn hại mà chẳng lợi ích ǵ (Dược Phẩm Vậng Yếu).
8. Diên hồ
sách có tác dụng hoạt huyết lợi khí mà có tác dụng giảm đau lại rất mạnh. Hễ khí
huyết ngưng trệ, đau nhức ngực bụng th́ nó là thuốc chủ yếu. Tính của ấm vị cay
cho nên dùng trong chứng hàn uất. Những chứng do huyết nhiệt gây ra bệnh kinh
nguyệt sớm, hoặc huyết nóng vọng hành đều nên kiêng dùng nó (Trung Dược Học).
+ Diên hồ
sách có tác dụng hoạt huyết, hành khí, tác dụng chỉ thống mạnh, đi vào phần
huyết và phần khí, v́ vậy khí huyết ngưng trệ gây nên đau nhức vùng bụng, ngực
đều có thể dùng vị này (Thực Dụng Trung Y Học).
|