THẢO QUẢ

Xuất xứ:
Ẩm Thiện Chính Yếu.
Tên khoa học:
Amomum tsaoko Crevost et Lem.
Họ khoa học:
Họ Gừng (Zingiberaceae).
Mô Tả:
Loại thảo, sống lâu năm, cao chừng 2,5-3m. Thân rễ mọc
ngang, có đốt, đường kính chừng 2,5-4cm, giữa có màu trắng nhạt, phía ngoài màu
hồng, mùi thơm. Lá mọc so le, có lá có cuống, có lá không cuống, bẹ lá có khía
dọc, phiến lá dài 60-70cm, rộng tới 20cm, mặt trên phiến lá màu xanh thẫm, mặt
dưới hơi mờ, mép lá nguyên. Cụm hoa bông, mọc từ gốc, dài chừng 13-20cm, hoa màu
đỏ nhạt, mỗi bông nhiều quả, khi chín quả màu đỏ nâu, dài 2,5-4cm, rộng 1,5-2cm.
Vỏ quả ngoài dầy 5mm, quả chia làm 3 ô, mỗi ô có độ 7-8 hạt rất thơm, có áo hạt
hình tháp, ép vào nhau.
Địa lý:
Mọc hoang và được trồng ở các tỉnh miền núi như Hoàng Liên
Sơn, Hà Tuyên, Tây Bắc.
Thu hái, Sơ chế:
Lựa quả chưa chín, hái về phơi hoặc sấy nhẹ lửa cho khô
(thường 3-4 ngày). Quả khô sẽ ngả mầu xám nâu nhạt, nhiều nếp nhăn dọc và thường
phủ 1 lớp phấn trắng. Khi nào dùng mới bóc vỏ ngoài lấy hạt, nếu bóc ngay sẽ mất
mùi thơm.
Bộ phận dùng:
Quả.
Bào chế:
+ Dùng Cám hòa với nước sôi cho dẻo, bọc Thảo quả rồi
nướng, bỏ xác và xơ trắng ở bên trong đi, để dành dùng (Trung Quốc Dược Học Đại
Từ Điển).
+ Dùng bột mì trộn với nước sôi cho dẻo, bọc Thảo quả,
nướng chín, bỏ vỏ lấy nhân dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Thành phần hóa học:
+ Trong Thảo quả có tinh dầu chừng 1-3%. Tinh dầu mầu vàng
nhạt mùi thơm, ngọt, vị nóng cay, dễ chịu
Tác dụng dược lý:
+ Nước sắc 0,25-0,75% của Thảo quả có tác dụng hưng phấn
ruột cô lập của súc vật thí nghiệm (Trung Dược Học).
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị sốt rét: Thảo quả nhân 4g, Thục phụ tử 10g, Sinh
khương 3 lát, Đại táo 3 quả, sắc uống (Quả Phụ Thang - Tế Sinh Phương).
+ Trị bụng đau, bụng đầy do hàn thấp tích trệ: Thảo quả
(nướng) 6g, Hậu nphác, Hoắc hương đều 10g, Thanh bì, Bán hạ, Thần khúc đều 6g,
Cao lương khương 6g, Đinh hương, Cam thảo đều 4g, Sinh khương, Đại táo 10g, sắc
uống (Thảo Quả Ẩm - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị sốt rét: Thảo quả nhân 2g. tán bột, bọc trong miếng
gạc, trước khi lên cơn, nhét vào 1 bên lỗ mũi (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị tiêu hóa rối loạn do ăn uống, không tiêu, tích thực,
gây vùng thượng vị đầy đau: Thảo quả (nướng) 6g, Thương truật, Hậu phác, Trần
bì, Sinh khương đều 10g, Cam thảo 4g, Đại táo 3 quả, sắc uống (Thảo Quả Bình Vị
Tán - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị miệng hôi: Thảo quả gĩa dập, ngậm nuốt dần (Dược
Liệu Việt Nam).
+ Trị sốt rét, tiêu chảy: Thảo quả 10g, Kha tử 10g, Gừng
sống 7 lát, Táo đen 7 quả, nước 300ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày
(Dược Liệu Việt Nam).
+ Thảo quả dùng với Tri mẫu trị chứng hàn nhiệt ngược. Hai
vị thuốc 1 âm 1 dương nên không có hạ do thiên thắng. Thảo quả trị hàn ở thái
âm, Tri mẫu trị hỏa ở dương minh (Bản Thảo Cương Mục).
+ Thảo quả và Đậu khấu, nhiều sách đều ghi là khí vị tương
đồng, có tác dụng chỉ khát, ôn vị, khứ hàn. Thuốc có khí vị phù tán, do đó, bị
chứng chướng ngược, dùng thuốc đều có hiệu quả (Bản Thảo Cầu Chân).
+ Thảo quả vị cay, tính ôn táo, thiên về trừ hàn thấp mà
ôn táo trung cung cho nên Thảo quả là vị thuốc chủ yếu để trừ hàn thấp ở tỳ vị.
Ở vùng rừng núi, khí độc sương mù đều là loại âm thấp tà, dễ làm tổn thương
chính khí, muốn trừ khí độc phải dùng loại ôn táo, phương hương để thắng âm,
thấp trọc (Bản Thảo Chính Nghĩa).
+ Thảo Quả và Thảo đậu khấu có điểm khác nhau: Ngày nay,
tỉnh Phúc Kiến trồng Đậu khấu to như quả nhãn, nhưng hơi dài, vỏ vàng nhạt, mỏng
mà những cạnh nhô lên, nhân ở trong giống như hột Sa nhân, có mùi cay, thơm, gọi
là Thảo đậu khấu. Tỉnh Vân Nam trồng Thảo quả, to như trái Kha tử, vỏ đen dầy,
các đường gân liền nhau, nhân bên trong thô và cay hắc bốc lên giống mùi con Ban
miêu (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Thảo quả chủ yếu trị về hàn thấp khí uất, sốt rét do
chướng khí, dịch khí. Thảo đậu khấu chủ yếu trị về vị suy, nôn mửa, ngực đầy,
bụng đau, bụng đầy (Đông Dược Học Thiết Yếu).
|