| |
BẠCH CHỈ

-Xuất xứ:
Bản Kinh.
-Tên khác:
Bách chiểu, Chỉ hương, Cửu lư trúc căn, Đỗ nhược, Ḥe
hoàn, Lan ḥe, Linh chỉ, Ly hiêu, Phương hương (Bản Kinh), Thần hiêu (Ḥa Hán
Dược Khảo), Bạch cự (Biệt Lục), Phù ly, Trạch phần (Ngô Phổ Bản Thảo), An bạch
chỉ, Hàng bạch chỉ, Vân nam ngưu pḥng phong, Xuyên bạch chỉ (Trung Dược Đại Từ
Điển), Hưng an bạch chỉ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Hàng bạch chỉ,
Hương bạch chỉ, Xuyên bạch chỉ (Đông Dược Học Thiết Yếu),
-Tên khoa học:
Angelica Dahurica Benth. Et Hook. F.
-Họ khoa học:
Apiaceae.
-Mô tả:
Cây thân thảo, sống lâu năm, cao 1-1,5 m. Thân rỗng, đường
kính có thể đến 2-3cm. Mặt ngoài mầu tím hồng, phía dưới nhẵn, phía trên gần cụm
hoa có lông ngắn. Rễ ph́nh thành củ dài, mọc thẳng, đôi khi phân nhánh. Lá tọt
có cuống dài, phát triển thành bẹ rộng, ôm lấy thân, phiến lá xẻ 2-3 lần, h́nh
lông chim. Thùy h́nh trứng dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa. 2 mặt lá
không lông trừ đường gân ở mặt trên lá có lông tơ. Cụm hoa là 1 tán kép, mọc ở
đầu cành hoặc kẽ lá, có cuống chung dài 4-8cm, cuống tán dài 1cm. Hoa mầu trắng,
mẫu 5. Quả bế đôi dẹt, h́nh bầu dục hoặc hơi tṛn, dài khoảng 6mm. Rễ, thân, lá,
có tinh dầu thơm. Mùa hoa quả: tháng 5-7.
Phân biệt:
Phân biệt với cây
xuân Bạch Chỉ (Angelica anomala Lallem) cùng họ với cây
trên, đó là cây cao 2-3m. Lá 3 lần sẻ lông chim. Lá chét có cuống dài khoảng
3cm. Những điểm khác đều giống loài ở trên.
Mô tả dược liệu: Rễ Bạch Chỉ
(Angelica dahurica Benth et Hook.) h́nh trụ, đầu trên hơi vuông mang vết tích
của cổ rễ, đầu dưới nhỏ dần. Mặt ngoài màu vàng hay nâu
nhạt có nhiều lớp nhăn dọc nhiều lỗ vỏ lồi lên nằm ngang xếp thành 4 hàng dọc.
Bẻ ngang cứng, mặt bẻ không sơ. Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng, mô mềm vỏ màu
trắng ngà, có nhiều bột, phía ngoài xốp hoặc có nhiều điểm nhỏ màu nâu (ống
tiết) tầng sinh gỗ h́nh vuông. Gỗ chiếm trên 1/2 đường bán
kính. Mùi thơm hơi hắc, vị hơi cay gọi là hàng Bạch Chỉ.
Rễ Bạch Chỉ (Angelica anomala Lallem)
cũng h́nh trụ mặt ngoài màu vàng nâu hay nhạt, có lỗ vỏ lồi lên nằm ngang. Bẻ
ngang cứng, mặt bẻ không sơ. Mặt ngang có lớp bần mỏng, mô mềm màu vỏ trắng tro,
có nhiều tính bột phía ngoài có nhiều điểm nhỏ màu nâu (ống tiết), tầng sinh gỗ
h́nh ṿng tṛn, gỗ chiếm trên 1/3 đường bán kính. Mùi hơi hắc, vị hơi cay gọi là
Xuyên Bạch Chỉ.
Thu hái, sơ chế: Lá úa vàng lúc
mùa thu, đào rễ, bỏ thân và rễ con, rửa sạch đốt cho vào
vại có vôi, đậy kín một tuần mới lấy ra phơi khô, có nơi phơi ngay nếu mưa th́
sấy trong ḷ sau đó th́ cạo bỏ vỏ mỏng ngoài Hoặc có nơi phơi hoặc sấy nhẹ đến
khô, hoặc cho vào ḷ xông Lưu hoàng một ngày đêm cho thật chín mềm (cứ 100kg
Bạch Chỉ tươi th́ dùng 0,800kg Lưu hoàng) cho tới độ ẩm dưới 13% th́ Bạch Chỉ
mới trắng, những lần sấy sau Lưu hoàng ít hơn, cứ 100kg Bạch Chỉ th́ cần Lưu
hoàng đốt làm 2 lần.
-Bào chế:
+ Hái Bạch chỉ về, cạo sạch vỏ, thái
nhỏ, lấy Hoàng tinh (số lượng bằng nhau), cho vào nồi, đồ 1 lúc, lấy Bạch chỉ
ra, phơi khô, dùng. Hoặc hái về, rửa sạch, cắt ra từng khúc, trộn với vôi, phơi
khô. Khi dùng cho vào thuốc th́ sao qua. có thể sao cháy hoặc tẩm giấm, sao
(Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Rửa qua cho sạch, ủ 3 giờ cho mềm.
Thái nhỏ, phơi trong râm cho khô. Không sao tẩm ǵ (Phương Pháp Bào Chế Đông
Dược – Việt Nam).
Rễ củ thu hái lúc trời khô ráo, trước lúc mưa to kéo dài.
Đào rễ và cắt cho bằng đầu, tránh làm sây sát vỏ và gẫy rễ. Không thu hái ở cây
đă kết hạt. Loại bỏ rễ con, rửa nhanh sau đó sấy Lưu huỳnh rồi phơi ở
nhiệt độ 40-50o (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
-Thành phần hóa học:
+ Trong Bạch chỉ chứa tinh dầu và các
dẫn chất Curamin là:Byak-Angelicin, Byak Angelicol, Oxypeucedanin, Imperatorin,
Isoimperatorin, Phelloterin, Xanthotoxin, Anhydro Byakangelicin (Iso
Byakangelicol), Neobyak Angelicol. Ngoài ra c̣n có Marmezin và Scopetin (Tài
Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
+ Byak-Angelicin, Byak Angelicol,
Oxypeucedanin, Imperatorin, Isoimperatorin, Phelloterin, Angelic Acid,
Angelicotoxin, Xanthotoxin, Marmesin, Scopolotin, Isobyakangelicol,
Neobyakangelicol (Trung Dược
Học).
+ Isoimperatorin, Alloisoimperatorin,
Alloimperatorin, Oxypeucedanin, Oxypeucedanin hydrate, Byakangelicin,
Byakangelicol, Neobyakangelicol, Phellopterin, Xanthotoxol, Bergapten,
5-Methoxyl-8-Hydroxypsoralen, Cnidilin, Pabulenol (Okuyama T. Chem Pharm Bull,
1990, 38 (4): 1084).
+ Sitosterol, Palmitic acid (Đái Phu
Tiến, Hóa Tây Dược Học Tạp Chí 1990, 38 (4): 1084).
-Tác dụng dược lư:
+ Tác dụng kháng khuẩn:
Trong thí nghiệm, Bạch chỉ có tác dụng kháng khuẩn đối với
các loại Shigella và Salmonella (Trung Dược Học).
Bằng phương pháp khuyếch tán trên môi trường nuôi
cấy vi khuẩn, nước sắc và cao chiết từ Bạch chỉ có tác dụng kháng khuẩn đối với
các chủng phế cầu (Diplococcus Pneumoniae), liên cầu (Streptococus
Hemoleticus), tụ cầu vàng (Staphylococus Aureus), Bacillus Subtilis, Shigella
Sonnei, Shigella Flexneri, Shigella Shiga, Shigella Dysenteriae, Enterococus,
Vibrio Cholerae và Bacillus Typhi. Ngoài ra, Bạch chỉ c̣n có tác dụng kháng
Virus (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
+ Tác dụng giảm đau: Trên mô
h́nh gây quặn đau bằng cách tiêm xoang bụng dung dịch Acid Acetic 6%o cho chuột
nhắt trắng, Bạch chỉ với liều lượng 10g/kg, có tác dụng giảm đau rơ rệt (Tài
Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
+ Giảm đau: Làm giảm
đau đầu do cảm cúm, đau đầu sau đẻ, đau lợi răng, đau thần kinh mặt (Hiện Đại
Thực Dụng Trung Dược).
+ Tác dụng hưng phấn trung khu
thần kinh: Với liều nhỏ Angelicotoxin có tác dụng hưng phấn trung khu vận
động huyết quản, trung khu hô hấp và dây thần kinh phế vị làm cho huyết áp tăng,
mạch chậm, hơi thở kéo dài, chảy nước dăi và nôn mửa. Với liều lớn dẫn tới co
giặt và tê liệt toàn thân (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).
+ Tác dụng kháng khuẩn:
ức chế trực khuẩn ly, thương hàn, vi khuẩn G + (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).
+ Kháng khuẩn lao:
Đối với vi khuẩn lao ở người thuốc có tác dựng ức chế rơ rệt (Sổ Tay Lâm Sàng
Trung Dược).
+ Dùng trong nhăn khoa: Loại
Pommade làm từ Bạch chỉ có tác dụng tăng khả năng trị liệu và tránh được loét
giác mạc do bỏng ánh sáng gây ra (Trung Dược Học).
+ Tác dụng chống viêm: Với mô
h́nh gây viêm thực nghiệm bằng Kaolin trên chuột cống trắng, Bạch chỉ với liều
lượng 10g/kg có tác dụng chống viêm. Angelicotoxin, một hoạt chất chiết từ Bạch
chỉ, dùng với liều nhỏ, có tác dụng kích thích trung khu vận mạch, tủy sống, gây
tăng huyết áp, mạch chậm, hô hấp hưng phấn, các phản xạ được tăng cường, ngoài
ra việc kích thích tiết nước bọt. Dùng với liều quá lớn gây co giật và cuối cùng
dăn đến tê liệt (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
+ Dùng trong tai mũi họng: Bột
làm từ Bạch chỉ và Băng phiến, hít vào lỗ mũi, có tác dụng trị đầu đau, răng
đau, thần kinh sinh ba đau (Trung Dược Học).
+ Độc tính của Angelicotoxin giống như
chất Xicutoxin nhưng không mạnh bằng (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
-Tính vị, quy kinh:
+ Vị cay, hơi ngọt, tính ấm (Trấn Nam
Bản Thảo).
+ Vị cay, mùi hôi, hơi có độc (Dược Vật
Đồ Khảo).
+ Vị cay, tính ấm, vào kinh Bàng quang
(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Vị cay, tính ấm. Vào kinh Phế, Tỳ, Vị
(Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Vị cay, tính ấm, vào kinh Phế, Vị và
Đại trường (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Vào kinh Vị, Đại trường, Phế (Trân
Châu Nang).
+ Vào kinh Phế, Tỳ, Vị (Lôi Công Bào
Chích Luận).
+ Vào kinh Can, Vị, Đại trường (Bản
Thảo Kinh Giải).
-Tác dụng, chủ trị:
+ Trị phụ nữ bị lậu hạ, xích đới, huyết
bế, âm đạo sưng, nóng lạnh, đầu phong, chảy nước mắt, cơ nhục sưng (Bản Kinh).
+ Trị phong tà, nôn mửa, hông sườn dầy,
đầu đau, khát lâu ngày, chóng mặt, mắt ngứa (Biệt Lục).
+ Trị xoang mũi, mũi chảy máu, răng đau,
xương chân mày đau, bón, tiểu ra máu, huyền vận, giải độc do rắn cắn, vết thương
đâm chém (Bản Thảo Cương Mục).
+ Trừ phong tà, làm sáng mắt, cầm nước
mắt, trừ mủ. Trị ngực bụng đau như kim đâm, phụ nữ bị băng huyết, tiểu ra máu,
lưng đau, bụng đau, ói nghịch (Dược Tính Luận).
+ Bổ thai lậu, hoạt lạc, phá huyết xấu,
bổ huyết mới, bài nùng, chỉ thống, sinh cơ.Trị mắt đỏ, mắt có mộng, vú sưng đau,
phát bối, loa lịch (lao hạch), trường phong, trĩ lậu, mụn nhọt, lở ngứa (Nhật
Hoa Tử Bản Thảo).
+ Trị da ngứa do phong, Vị bị lạnh, bụng đau do lạnh, cơ
thể đau do phong thấp (Trấn Nam Bản Thảo).
+ Tán hàn, giải biểu, khư phong, táo
thấp, chỉ thống, giải độc. Trị đầu đau, răng đau, vùng trước trán và lông mi
đau, tỵ uyên (xoang mũi viêm), xích bạch đới, mụn nhọt, ghẻ lở, ngứa ngoài da,
rắn cắn, bỏng do nóng (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Táo thấp, trừ phong hàn, hoạt huyết,
tiêu mủ, sinh da non, giảm đau. Trị phong thấp thuộc kinh dương minh, ung nhọt
(Đông Dược Học Thiết Yếu).
-Liều dùng: 4-8g.
-Kiêng kỵ:
+ Nôn mửa do hỏa: không dùng. Lậu hạ,
xích bạch đới, âm hư hỏa kết, huyết nhiệt: không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Nhức đầu do huyết hư, hỏa vượng, đinh
nhọt hoặc mụn nhọt chưa vỡ miệng, người âm hư hỏa uất: không dùng (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).
+ Âm hư, huyết nhiệt: không dùng (Trung
Dược Đại Từ Điển).
+ Âm hư hỏa vượng: không dùng (Đông
Dược Học Thiết Yếu).
+ Đầu đau do huyết hư, ung ngọt đă vỡ
mủ: không dùng (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Không dùng đối với chứng
đau đầu do huyết hư, ung nhọt đă vỡ mủ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Kỵ Tuyền phúc hoa (Bản
Thảo Kinh Tập Chú).
+ Ức chế Hùng hoàng, Lưu
hoàng (Bản Thảo Cương Mục).
+ Bạch chỉ làm tổn thương
khí huyết, không nên dùng nhiều (Lôi Công Bào Chích Luận).
-Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị đầu phong: Bạch chỉ, Bạc
hà, Mang tiêu, Thạch cao, Uất kim. Tán bột, mỗi lần dùng 1 ít, thổi vào mũi (
Bạch Chỉ Tán – Lan Thất Bí Tàng).
+ Trị đầu đau, mắt đau: Bạch
chỉ 16g, Ô đầu (sống) 4g. Tán bột, mỗi lần dùng 1 ít uống với nước trà (Bạch
Chỉ Tán – Chu Thị Tập Nghiệm Phương).
+ Trị các chứng phong, chóng mặt,
sản hậu sinh xong bị cảm do phong tà, tinh thần không tỉnh: Hương bạch chỉ
(dùng nước nấu sôi 4-5 dạo), tán bột, trộn mật làm hoàn, to bằng viên đạn. Mỗi
lần uống 1 hoàn (Đô Lương Hoàn - Bách Nhất Tuyển Phương).
+ Trị chứng trường phong: Hương
bạch chỉ, tán bột, uống với nước cơm (Bách Nhất Tuyển Phương).
+ Trị nửa đầu đau: Bạch chỉ, Tế
tân, Thạch cao, Nhũ hương, Một dược (bỏ dầu), lượng bằng nhau. Tán nhuyễn, thổi
vào mũi. Đau bên trái thổi bên phải và ngược lại (Bạch Chỉ Tế Tân Suy Tỵ Tán -
Chủng Phúc Đường Công Tuyển Lương Phương).
+ Trị mi mắt đau do phong, nhiệt
hoặc đờm: Bạch chỉ, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước trà (Đan Khê Tâm
Pháp).
+ Trị mũi chảy nước trong: Bạch
chỉ, tán bột. Dùng Hành gĩa nát, trộn thuốc làm hoàn 4g. Ngày uống 2 lần, mỗi
lần 8-12g với nước trà nóng (Bạch Chỉ Tán - Chứng Trị Chuẩn Thằng).
+ Trị xoang mũi: Bạch chỉ,
Pḥng phong, Tân di mỗi thứ 3,2g, Thương nhĩ tử 4,8g, Xuyên khung 2g, Tế tân
2,8g, Cam thảo 1,2g, ḥa với nước bôi chung quanh rốn. Kiêng thịt ḅ (Dương Y
Đại Toàn).
+ Trị thương hàn cảm cúm: Bạch
chỉ 40g, Cam thảo (sống) 20g, Gừng 3 lát, Hành 3 củ, Táo 1 trái, Đậu xị 50 hột,
nước 2 chén, sắc uống cho ra mồ hôi (Vệ Sinh Gia Bảo Phương).
+ Trị trẻ nhỏ bị sốt: Bạch chỉ,
nấu lấy nước tắm cho ra mồ hôi (Tử Mẫu Bí Lục Phương).
+ Trị bạch đới, ruột có mủ máu, tiểu
đục, bụng và rốn lạnh đau: Bạch chỉ 40g, Đơn diệp hồng la quỳ căn 80g,
Thược dược căn, Bạch phàn, mỗi thứ 20g. Tán bột. Trộn với sáp làm hoàn to bằng
hạt Ngô đồng. Uống mỗi lần 10-15 hoàn với nước cơm, lúc đói (Bản Thảo Hối
Nghĩa).
+ Trị các loại phong ở đầu, mặt: Bạch chỉ, xắt lát, lấy nước Củ cải tẩm vào, phơi khô, tán bột. Ngày uống 8g
với nước sôi hoặc thổi vào mũi (Trực Chỉ Phương).
+ Trị trĩ ra máu: Bạch chỉ, tán
bột. Mỗi lần uống 4g với nước cơm, ngoài ra sắc thuốc lấy nước xông và rửa hậu
môn (Trực Chỉ Phương).
+ Trị trĩ sưng lở loét: trước
hết, lấy Tạo giác đốt, hun khói, sau đó lấy mật vịt trộn với bột Bạch chỉ, bôi
(Y Phương Trích Yếu).
+ Trị chính giữa đầu đau (đă
dùng nhiều thuốc nhưng không khỏi, dùng bài này có hiệu quả): Bạch chỉ (sao)
100g, Xuyên khung (sao), Cam thảo (sao), Xuyên ô đầu (nửa sống nửa chín), mỗi
vị 40g. Tán bột, mỗi lần dùng 4g với nước sắc Bạc hà, Tế tân (Đàm Dă Ông Thí
Hiệu Phương).
+ Trị 2 đầu lông mày đau do phong,
nhiệt, đờm: Bạch chỉ, Hoàng cầm (sao rượu), lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi
lần uống 8g với nước trà (Đan Khê Tâm pháp).
+ Trị răng đau do phong nhiệt:
Bạch chỉ 4g, Chu sa 2g. Tán bột, trộn mật làm viên to bằng hạt súng. Hàng ngày
dùng sát vào chân răng (Y Lâm Tập Yếu Phương).
+ Trị răng đau do phong nhiệt:
Bạch chỉ, Ngô thù, lượng bằng nhau, ḥa với nước, ngậm (Y Lâm Tập Yếu Phương).
+ Trị các bệnh ở mắt: Bạch chỉ,
Hùng hoàng, tán nhuyễn, trộn mật làm viên to bằng hạt nhăn, dùng Chu sa bọc
ngoài. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 hạt (Hoàn Tinh Hoàn - Phổ Tế Phương).
+ Trị tiểu khó do khí (Khí lâm): Bạch chỉ, tẩm giấm, phơi khô, 80g, tán nhuyễn. Mỗi lần uống 8g với nước sắc
Mộc thông và Cam thảo (Phổ Tế Phương).
+ Trị mắc (hóc) xương: Bạch
chỉ, Bán hạ, lượng bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 8g th́ sẽ ói xương ra (Phổ
Tế Phương).
+ Trị chân răng thối: Bạch chỉ
28g, tán nhỏ. Mỗi lần dùng 4g, sau khi ăn (Bách Nhất Tuyển Phương).
+ Trị chân răng thối: Bạch chỉ,
Xuyên khung, 2 vị bằng nhau, tán bột, làm viên to bằng hạt súng, ngậm hàng ngày
(Tế Sinh Phương).
+ Trị mồ hôi trộm: Bạch chỉ
40g, Thần sa 20g. Tán bột, ngày uống 8g với rượu nóng (Chu Thị Tập Nghiệm
Phương).
+ Trị ống chân đau: Bạch chỉ,
Bạch giới tử, lượng bằng nhau, trộn nước Gừng, đắp vào (Y Phương Trích Yếu
Phương).
+ Trị bạch đới: Bạch chỉ 160g,
Thạch hôi 640g. Ngâm 3 đêm, bỏ vôi đi, lấy Bạch chỉ xắt lát, sao, tán bột. Mỗi
lần uống 8g với rượu, ngày 2 lần (Y Học Tập Thành Phương).
+ Trị táo bón do phong độc:
Bạch chỉ, tán bột, mỗi lần uống 8g với nước cơm trộn với ít Mật ong (Thập Tiện
Lương Phương).
+ Trị cháy máu cam không cầm:
lấy huyết chảy ra đó, trộn với bột Bạch chỉ, đắp vào sơn căn (Giản Tiện
Phương).
+ Trị thủng độc, nhiệt thống:
Bạch chỉ, tán nhỏ, ḥa dấm bôi (Vệ Sinh Giản Dị Phương).
+ Trị tiêu ra máu do phong độc trong
ruột: Bạch chỉ, tán bột. Mỗi lần uống 4g với nước cơm, rất thần hiệu (Dư Cư
Sĩ Tuyển Kỳ Phương).
+ Trị đinh nhọt mới phát: Bạch
chỉ 4g, Gừng sống 40g, rượu 1 chén, gĩa nát thuốc, uống nóng cho ra mồ hôi (Tụ
Trân Phương).
+ Trị ung nhọt trong ruột, đới hạ ra
chất tanh nhớp luôn luôn: Bạch chỉ 40g, Hồng quỳ 80g, Khô phàn, Bạch thược
đều 20g. Tán bột, uống với nước cơm, lúc đói. Khi hết mủ,
dùng lá Sen để bổ. Khi ung nhọt đă bớt th́ giảm liều dùng (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ Trị ung nhọt sưng đỏ: Bạch
chỉ, Đại hoàng, lượng bằng nhau, mỗi lần uống 8g với nước cơm (Kinh Nghiệm
Phương).
+ Trị vết thương do dao chém, tên
bắn : Bạch chỉ, nhai nát, đắp (Tập Giản Phương).
+ Giải độc Từ thạch: Bạch chỉ,
nghiền nát, uống 8g với nước giếng (Sự Lâm Quảng Kư Phương).
+ Trị trẻ nhỏ bị đơn độc, độc c̣n
lại chạy quanh, nhập vào bụng th́ nguy: Bạch chỉ, Hàn thủy thạch, tán bột,
trộn nước hành, dán vào chỗ đau (Toàn Ấu Tâm Giám Phương).
+ Trị tiểu ra máu: Bạch chỉ,
Đương quy, lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 8g (Kinh Nghiệm Phương).
+ Trị bệnh âm thử, xích thủng:
Bạch chỉ, Đại hoàng, lượng bằng nhau, tán nhỏ. Mỗi lần uống 6g với nước cơm (
Kinh Nghiệm Phương).
+ Trị ung nhọt sưng tấy, tuyến vú
viêm, rắn cắn: Bạch chỉ, Bối mẫu, Liên kiều, Qua lâu, Tử hoa địa đinh, mỗi
thứ 12g, Bồ công anh, Kim ngân hoa mỗi thứ 16g, Cam thảo 4g, sắc uống (Sổ Tay
Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị rắn độc hoặc rết cắn:
Bạch chỉ, Hùng hoàng, Nhũ hương, lượng bằng nhau, uống với rượu ấm (Bạch Chỉ Hộ
Tâm Tán - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị bạch đới: Bạch chỉ, Mai
mực, lượng bằng nhau, tán nhuyễn. Mỗi lần uống 12g (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị cảm, đầu đau (đau
trước trán nhiều): Bạch chỉ 12g, Xuyên khung 4g, Pḥng phong 12g, Khương
hoạt 8g, Hoàng cầm 8g, Sài hồ 8g, Kinh giới 8g, Cam thảo 4g, sắc nước uống (Khu
Phong Thanh Thượng Ẩm - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)..
+ Trị lở sơn: Bạch chỉ mài với
rượu hoặc dấm bôi (Dược Liệu Việt Nam).
+ Trị miệng hôi: Bạch chỉ 30g,
Xuyên khung 30g. Tán bột, trộn mật làm viên, to bằng hạt ngô, ngày ngậm 2-3 viên
(Dược Liệu Việt Nam).
-Tham khảo:
+ ”Đương quy làm sứ cho nó, ghét Tuyền
phúc hoa (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
+ ”Bạch chỉ ghét vị Tuyền phúc hoa - Mọi
chứng lở ngứa dùng vị Bạch chỉ làm tá v́ Bạch chỉ có tác dụng khu phong, hút
được mủ ướt (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ ” Bạch chỉ và Giới bạch đều là thuốc
thông khí, giảm đau, nhưng Giới bạch khí đục cho nên vào trong, chữa ngực đau,
tê; Bạch chỉ khí trong cho nên đi ra ngoài, trị đau vùng xương lông mày - Bạch
chỉ vị cay, tính ấm, nói chung dùng để táo hàn thấp mà tán phong nhưng có khi
dùng để trị chứng phong nhiệt, v́ vậy, cho thêm vào thuốc thanh tiết để làm
nhiệm vụ ‘Phản tá’. Đó là dựa vào ư hỏa uất th́ cho phát, kết th́ cho tán (Đông
Dược Học Thiết Yếu).
+ ” Bạch chỉ và Kinh giới đều là vị
thuốc có vị cay, tính ấm, dùng để giải biểu. Không phải chỉ có vào khí phận mà
c̣n vào huyết phận, đều có tác dụng phát tán phong hàn, xử lư huyết, có tác dụng
tiêu thủng. Nhưng Bạch chỉ vị cay, thơm, tính ôn, táo, chủ yếu vào kinh dương
minh, tán hàn mạnh và có khả năng thông mũi, táo thấp, hoạt huyết, trừ mủ. Kinh
giới vị cay tính ấm nhưng không táo, chủ trị Can kinh, khu phong mạnh, trị được
chứng co giật, làm sáng mắt, lợi hầu (Trung Dược Lâm Sàng Giám Dụng Chỉ
Mê).
+ ” Xưa ở Lâm Xuyên có người bị rắn độc
cắn, hôn mê, cánh tay sưng to bằng đùi chân, một lát th́ khắp người sưng phù,
mầu đen tím bầm. May gặp một đạo nhân dùng bột Bạch chỉ ḥa với nước mới múc lên
mà đổ cho uống rồi thấy trong rốn máy động, miệng ói ra nước vàng tanh hôi ghê
gớm, ít lâu sau th́ tự nhiên tiêu tan. Về sau dùng bài Mạch Môn Đông Thang mà
điều dưỡng nhưng cũng phải dùng bột Bạch chỉ th́ xát hoài. Lại một chuyện ở Kinh
sơn tự, có tu sĩ bị rắn độc cắn vào chân, sau đó vỡ ra, hôi thối, đă dùng nhiều
thuốc mà không khỏi. May gặp một tu sĩ đến chơi, dùng nước mới múc lên mà rửa
luôn, sạch hết thịt thối, đến nỗi ḷi cả gân trắng ra. Sau đó rót nước nhiều vào
rồi để cho khô, dùng bột Bạch chỉ cùng với Đởm phàn và Xạ hương một ít, rắc thấm
vào th́ nước độc chảy ra, hàng ngày cứ làm như thế, được một tháng th́ khỏi”
(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ “Ông Trương Sơn Lôi nói rằng: Bạch
chỉ vị cay, tính ấm, thơm tho và mạnh mẽ, tính ráo, đặc biệt là nó sơ phong tán
hàn. Nó có thể đi lên đầu, mắt. Tính nó cũng hay táo thấp, thăng dương, đi khắp
mọi chỗ ở da thịt. Công hiệu của Bạch chỉ cũng gần giống như Xuyên khung, Cảo
bản” (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
| | |