| |
BÁN HẠ

Xuất xứ:
Bản Kinh.
Tên Hán Việt khác:
Thủy ngọc, Địa văn (Bản Kinh), Ḥa cô (Ngô Phổ
Bản Thảo), Thủ điền, Thị cô (Biệt Lục), Dương nhăn bán hạ (Tân Tu Bản
Thảo), Trỉ mao ấp, Trỉ mao nô ấp, Bạch bang kỷ tử, Đàm cung tích lịch (Ḥa Hán
Dược Khảo), Lăo nha nhăn, Thiên lạc tinh, Dả vu đầu, (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển), Tam bộ khiêu (Hồ Nam Dă Sinh Thực Vật), Ma vu quả (Liễu Châu Dân
Gian Phương Dược Tập), Địa chu bán hạ (Côn Minh Dược Dụng Thực Vật Điều
Tra Báo Cáo), Địa lôi công (Trung Dược Chí) .
Tên khoa
học:
Pinellia ternata (thunb) bret (pinellia tuberifera ten).
Họ khoa học:
Họ Ráy (Araceae).
Mô tả:
Bán hạ là loại thân củ. Củ h́nh tṛn cầu hoặc tṛn dẹt. Lá có cuống dài, về
mùa xuân cây mọc 1-2 lá, dài 3-33cm, lá đơn chia làm 3 thùy, tùy theo tuổi cây
mà lá mọc có khác nhau về h́nh dạng, cuống lá dài lá màu xanh, nhẵn bóng không
có lông, lúc cây c̣n nhỏ lá đơn, h́nh trứng hay h́nh tim, đuôi nhọn mép lá
nguyên hoặc hơi có làn sóng, gốc lá h́nh mũi tên, cây 2-3 tuổi lá có 3 thùy,
h́nh bầu dục hay h́nh kim ph́nh giữa, hai đầu nhọn. Cây
2-3 tuổi mới có hoa, hoa h́nh bông nở vào đầu mùa hạ, hoa có bao lớn, bao màu
xanh, trong bao có hoa tự, hoa cái mọc ở phía dưới, màu xanh nhạt, hoa đực mọc ở
bên trên, màu trắng, đoạn trên cong hoa đài nhỏ. Quả mọng h́nh bầu dục, dạng
trứng.
Địa lư:
Có nhiều ở Trung quốc, mọc hoang và trồng sản
xuất. Nhân dân Trung quốc có tập quán cho Bán hạ sản xuất ở các tỉnh Hồ bắc, Hồ
nam, An huy, Sơn đông có phẩm chất tốt nhất. Ở các tỉnh như Giang tô, Triết
giang, Tứ xuyên, Vân nam, Quư châu, Giang tây, Quảng tây cũng có sản xuất vị
này. Việt Nam c̣n
phải nhập của Trung Quốc.
Thu hái, sơ chế:
Thu hoạch vào mùa hè, chọn củ đào về rửa sạch đất
cắt bỏ vỏ ngoài (màu vàng tro) và rễ tơ phơi khô.
Mô tả
dược liệu: Bán hạ h́nh cầu tṛn hoặc h́nh tṛn dẹt, hoặc dẹt nghiêng, đường
kính 0,7-2cm. Mặt ngoài mầu trắng hoặc mầu vàng nhạt, phần trên thường tṛn,
phẳng, ở giữa có chỗ lơm, đó là vết của thân, mầu vàng nâu, chung quanh chi chít
vết rễ chấm nhỏ, mặt dưới thường h́nh tṛn, tầy, bóng hoặc không phẳng, mầu
trắng. Chất cứng, mặt bổ dọc h́nh quả Thận, có bột, mầu trắng, bóng mịn. Loại củ
ǵa hoặc khô th́ mầu trắng tro hoặc có vân mầu vàng, không mùi, vị cay, nhấm
thấy dính, tê lưỡi, ngứa họng (Dược Tài Học).
Bào chế:
+ V́ Bán hạ
dùng sống có độc, v́ vậy khi dùng uống trong, cần phải bào chế. Cách bào chế có
Pháp bán hạ, Tô bán hạ (chế với váng sữa) ngoài ra c̣n có Bán hạ khúc để dùng có
tác dụng giải uất trừ đàm. Sau đây là các phép bào chế:
a- Bào
chế Pháp Bán hạ: Lấy Bán hạ sạch ngâm nước chừng 10 ngày cho đến khi bột
trắng nổi lên th́ vớt ra, rồi ngâm tiếp với Bạch phàn (cứ 50kg Bán hạ cho 1kg
Bạch phàn). Ngâm 1 ngày rồi lại thay nước, đến khi nhấm vào miệng không c̣n cảm
giác tê cay th́ vớt ra, phơi trong râm (tránh nắng). Ngoài ra c̣n có cách khác
là gĩa dập Cam thảo ḥa với nước vôi, lắng gạn bỏ cặn rồi để Bán hạ vào ngâm.
Quấy trộn hàng ngày đến khi màu vàng thấm đều vào bên trong vớt ra phơi trong
râm đến khô (Cứ 50kg Bán hạ th́ dùng 8kg Cam thảo và 10kg vôi cục) (Dược Tài
Học).
b- Bào
chế Khương Bán hạ: Bán hạ đă được bào chế theo pháp Bán hạ như trên, đến
khi vị thuốc không c̣n tê cay th́ xắt lát Gừng sống rồi cho Bạch phàn và Bán hạ
vào đun cho thấm. Lấy ra phơi qua cho ráo nước, cắt thành từng miếng phơi khô
(Cứ 50kg Bán hạ th́ dùng 12,5 kg Gừng sống 6,5kg Bạch phàn) (Dược Tài Học).
c- Bào
chế Thanh Bán hạ: Lấy Bán hạ đă biến chế theo Pháp bán hạ như trên, đến khi
vị thuốc không c̣n tê cay, thêm Bạch phàn và nước đun kỹ, lấy ra phơi qua cho
ráo nước ủ ấm rồi xắt thành phiến, lại phơi trong râm mát (Cứ 50kg Bán hạ th́
dùng 6,5kg Bạch phàn) (Dược Tài Học).
d-Bào chế
Bán hạ khúc: Dùng Bán hạ sống đồ vào nồi nước, dùng một chút phèn chua đun
sôi ngâm 1 đêm, hôm sau lại đun nước khác để thay nước cũ đi, làm 7 ngày 7 đêm
như vậy, rồi phơi khô, tán bột. Dùng nước Gừng ḥa với hồ làm thành Bánh sao
vàng (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Dùng Bán
hạ 160kg, Bạch giới tử 80g, giấm chua 200g. Cho Bạch giới tử gĩa nhỏ vào giấm
khuấy đều, thêm Bán hạ vào ngâm trong 1 đêm. Lấy ra, rửa sạch hết nhớt mà dùng
(Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Theo kinh
nghiệm của huyện Đạt tỉnh Tứ xuyên biến chế như sau: Có thể đem củ tươi chất
đống ở trong nhà 10-15 ngày, sau lấy tay bóp vỏ củ tự bóc ra thế là được. Ngoài
ra để rút ngắn thời gian ủ có thể trộn thêm một ít tro, có thể rút ngắn được nửa
thời gian ủ. Ngoài ra có một biện pháp ủ nhanh nữa là dùng một số lượng vôi vừa
phải trộn lẫn đều với củ xếp đống ở một góc nhà, đống cao khoảng 17cm, ủ khoảng
1-1,5 ngày là có thể xát bỏ vỏ được. Sau khi ủ xong bỏ vào rổ đầy, đem xuống chỗ
nước chảy, lấy chân đạp sát, chân có đi dép cỏ, đạp cho tới khi tróc hết vỏ,
thành màu trắng là được, nhưng phải đề pḥng da chân bị ngứa lở. Ngoài ra c̣n có
thể dùng chổi cứng hoặc que cứng đầu có buộc rạ hoặc lưỡi ngô chọc vào rổ
khoắng, trộn từ dưới lên, trong ra ngoài làm cho củ bị sát bong hết vỏ ngoài.
Nếu có 1 số củ bên ngoài chưa tróc hết th́ có thể chọn ra, sát lại cho sạch, nếu
số lượng ít th́ có thể lấy tay sát sạch, nhưng phải bôi thuốc hoặc dầu để chống
bị nhiễm độc. Sau khi qua giai đoạn sát bỏ vỏ là phơi khô, sau khi sát sạch vỏ
ngoài nên phơi nắng ngay, nếu bị mưa phải sấy khô, nếu không sẽ bị mốc thối. Nếu
dùng lửa sấy trước hết phải dùng lửa lớn cho củ bốc nóng tỏa hơn nước, lấy vải
khô lau nhẹ cho khô, trước khi củ khô hết nước không được trộn đảo, đến lúc
không c̣n giọt nước đọng, dùng lửa nhỏ để sấy cho khô kiệt. Nói chung sấy lúc
đầu lửa lớn, nhưng về sau nhỏ dần, như vậy phải qua một ngày đêm mới khô. Nếu
không có dụng cụ sao sấy có thể ngâm vào trong phèn chua băo ḥa (nếu đă phơi củ
khô được một ít th́ không cần đem ngâm, dùng Lưu hoàng xông, có thể chống được
mốc thối). Nên thay nước luôn để pḥng thối, đến lúc nắng phơi khô. Trong quá
tŕnh phơi khô, chú ư không dùng tay trộn đảo, tốt nhất là dùng que tre. Nếu
phơi khô mà màu da củ không được trắng th́ có thể dùng Lưu hoàng xông 1 ngày (Cứ
50kg Bán hạ th́ dùng 0,5kg Lưu hoàng), có thể làm củ trắng trong và trừ sâu mọt,
men mốc. Cứ 3-4 kg củ tươi có thể được 1kg củ khô (Kỹ Thuật Nuôi Trồng Và Chế
Biến Dược Liệu).
Cách dùng:
Bán hạ qua nhiều khâu chế biến khác nhau, nên
dùng cũng khác.
. Pháp Bán
hạ dùng trong trường hợp táo thấp, hóa đàm.
. Khương Bán
hạ dùng trong trường hợp giáng nghịch, chỉ ẩu.
. Bán hạ
khúc dùng trong trường hợp kiện vị tiêu thực.
. C̣n Bán hạ
sống chỉ dùng bên ngoài ít khi dùng để uống.
Bảo quản:
Để nơi khô ráo không được ẩm ướt, Bán hạ ít bị
mối mọt. Nếu thấy mốc có thể lấy nước rửa sạch phơi khô, dùng Lưu hoàng xông,
phơi khô, cất như cũ.
Thành
phần hóa học:
+ Coniine,
Protoanemonin, Homogentisic acid, Nicotine, Aspartic acid, Glutamic acid,
Arginine, b-Sitosterol,
Cholesterol (Trung Dược Học).
+ Ephedrine
(Haruji Oshio và cộng sự, Chem Pharm Bull 1978, 26 (7): 2096)
+ Choline, b-Sitosterol,
Daucosterol (Vĩ Quan Chiếu Nhị, Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1962, (82): 766).
+
Homogentisic acid, Protocatechualdehyde (Triệu Cương, Trung Quốc Trung Dược tạp
Chí 1990, 15 (3): 146).
Tác dụng
dược lư:
+ Tác dụng cầm nôn: Bán hạ chế thành
hoàn và nước sắc Bán hạ có tác dụng cầm nôn. Cao lỏng Bán hạ, bột Bán hạ (chế
với nhiệt độ cao) cũng có tác dụng cầm nôn. Nhưng Bán hạ sống ngược lại, lại có
tác dụng gây nôn (Trung Dược Học).
+ Tác dụng
giảm ho: Nước sắc Bán hạ cho mèo được gây ho nhân tạo uống, có tác dụng giảm ho
nhưng kém Codein. Thuốc cũng có tác dụng giảm ho nếu chích vào tĩnh mạch. Chế
phẩm của Bán hạ cho thỏ uống, có tác dụng làm giảm bớt tiết nước miếng do chất
Pilocarpine. Chế phẩm của Bán hạ cho chuột cống được gây bụi phổi uống, kết quả
phân tích tế bào chứng minh thuốc có tác dụng làm chậm quá tŕnh bệnh. Cho dùng
thuốc càng sớm, kết quả càng tốt (Trung Dược Học).
+ Bán hạ có
tác dụng giải độc đối với trường hợp nhiễm độc Strychnin và Acetycholin (Trung
Dược Học).
+ Protein
Bán hạ với liều 30mg/kg đối với chuột nhắt, có tác dụng chống việc có thai sớm.
Bán hạ sống ngâm kiệt có tác dụng chống rối loạn nhịp tim đối với súc cật thực
nghiệm (Trung Dược Học).
+ Cồn loăng hoặc nước ngâm kiệt
Chưởng diệp Bán hạ (Pinellia pedatisect Schott) có tác dụng ức chế rơ rệt đối
với ung thư và tế bào Hela trên súc vật thí nghiệm (Trung Dược Học).
Thành phần
độc của Bán hạ khó ḥa tan trong nước, c̣n thành phần có tác dụng cầm nôn và
giảm ho có thể ḥa ào nước nóng. Thành phần có độc không bị phá hủy bởi nước
Gừng đơn độc mà bị Bạch phàn (Phèn chua) làm cho hết độc (Trung Dược Học).
Độc tính:
Liều LD50 của Bán hạ sống chích vào màng bụng chuột là 13g/kg. Bán hạ
sống uống quá liều dễ bị ngộ độc. Ăn Bán hạ sống miệng lưỡi có cảm giác tê. Uống
liều lớn làm cho miệng và họng có cảm giác tê, cay mạnh, ngứa, nóng bỏng, sưng,
tiết nước miếng, muốn nôn, nôn, nói ngọng, khan tiếng, miệng há ra khó. Trường
hợp nặng sẽ bị nghẹt thở, khó thở dẫn đến tử vong (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Tính vị:
+ Vị cay,
tính b́nh (Bản Kinh).
+ Sống: tính
hơi hàn; Chín: có độc (Biệt Lục).
+ Rất độc
(Dược Tính Bản Thảo).
+ Vị cay
tính ấm, có độc (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Quy kinh:
+ Vào kinh
Phế, tỳ, Vị (Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Vào kinh
thủ Dương minh Vị, thủ Thái âm Phế, thủ Thiếu âm Tâm (Bản Thảo Hối Ngôn).
+ Vào kinh
Tỳ, Vị (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tác dụng:
+ Táo thấp,
hóa đàm, giáng nghịch, chỉ thổ
Chủ trị:
+ Trị ho
suyễn, khí nghịch do đàm thấp thủy ẩm, thấp trệ trung tiêu, nôn mửa bụng đầy,
đinh nhọt, sưng tấy, dùng sống tán bột, đắp ngoài.
Kiêng kỵ:
+ Đàn bà có thai, chứng táo nhiệt,
không được dùng. Không có hàn thấp khí cấm dùng
+ Tính nó
ghét Tạo giác, sợ Hùng hoàng, Gừng sống, Gừng khô, Tần b́, Quy giáp, Phản Ô đầu,
kỵ máu dê, Hải tảo, Mạch nha, Đường.
Đơn thuốc
kinh nghiệm:
+ Trị đau
nhói ở ngực, chính giữa tim đè vào thấy đau, mạch Phù Hoạt: Bán hạ nửa cân,
Hoàng liên 40g, Qua lâu 1 trái, 8 bát nước. Trước hết, sắc Qua lâu c̣n 3 bát, bỏ
bă rồi bỏ hai vị kia vào, sắc c̣n 2 bát, chia làm 3 lần uống (Tiểu Hăm Hung
Thang – Thương Hàn Luận).
+ Trị nôn do
chứng chi ẩm: Bán hạ ngâm rửa 7 lượng 1 chỉ, 7 tô nước, sắc c̣n 1,5 chén, chia
ra uống (Tiểu Bán Hạ Thang – Thương Hàn Luận).
+ Trị nôn
ọe, chóng mặt, hồi hộp, ăn uống không ngon: Bán hạ 1 cân, gừng sống nửa cân,
Phục linh 120g, sắc với nước, chia làm 3 lần, uống nóng (Bán Hạ Gia Phục Linh
Thang - Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị tim
hồi hộp: Bán hạ, Ma hoàng, hai vị bằng nhau. Tán bột, làm viên to bằng hạt đậu
nhỏ. Mỗi lần uống 30 viên, ngày 3 lần (Bán Hạ Ma Hoàng Hoàn - Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị ăn vào
nôn ra: Bán hạ 3 cân, Nhân sâm 120g, Mật ong 1 cân, 8 bát nước. Trộn mật đưa lên
cao mà rót xuống 120 lần, xong sắc c̣n 3 bát rưỡi. Mỗi lần uống 1 bát, uống nóng
(Đại Bán Hạ Thang - Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị có
thai nôn mửa: Bán hạ 80g, Nhân sâm, Can khương mỗi thứ 40g, tán bột, trộn với
nước gừng và bột miến làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 10 viên ngày
3 lần (Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị bụng
đau do bệnh thiếu âm, sinh mụn lở đau không nói được hay nói không ra tiếng:
dùng Bán hạ gĩa nát, lấy một cái trứng gà khoét một cái lỗ bỏ ḷng đỏ đi, đổ
giấm vào đầy, bỏ Bán hạ vào trong, bỏ trứng lên, rồi sắc, bỏ bă lấy ḷng trứng
ngậm vào (Khổ Tửu Thang – Thương Hàn Tạp Bệnh).
+ Trị hóc
xương: Bán hạ, Bạch chỉ hai vị bằng nhau, tán bột, uống một muỗng canh với nước
cho khi nào mửa. Kiêng thịt dê (Ngoại Đài Bí Yếu phương).
+ Trị nôn
mửa, lạnh tay chân do hàn đàm: Bán hạ 1 cân, ngâm rửa, sấy khô, trộn bột lúa
miến 1 cân với nước, làm thành viên. Ngày 3 lần, mỗi lần nhai nuốt 4-5 viên rồi
tăng dần đến 15 viên, khi nào bớt th́ thôi, lúc uống cử thịt dê, đường (Ngoại
Đài Bí Yếu).
+ Trị bụng
đầy do tiêu chảy, nôn mửa: Bán hạ, Quế, 2 vị bằng nhau, tán bột, uống với nước
sôi (Trửu Hậu phương).
+ Trị ung
thư, phát bối, vú sưng lở loét: Bán hạ tán bột, trộn ḷng trắng trứng gà bôi vào
(Trửu Hậu phương).
+ Trị nôn
mửa, tiêu chảy: Bán hạ (ngâm rửa, sao vàng) 80g, Hoắc hương (lá) 40g, Đinh hương
60g. Tán bột. Mỗi lần dùng 16g, thêm 7 lát gừng, sắc uống (Hoắc hương Bán Hạ
Thang - Ḥa Tễ Cục phương).
+ Trị mụn
nhọt, đàm nhớt, thanh dược khí trọc ở đầu mắt, ăn uống kém: Bán hạ rửa ngâm
296g, Khô phàn 40g. Tán bột, dùng nước gừng hồ làm viên, to bằng hạt ngô đồng.
Mỗi lần uống 15 viên với nước gừng. Nếu do hàn đàm: thêm Đinh hương 20g, Nhiệt
đàm: thêm Hàn thủy thạch (nướng) 160g (Ngọc Dịch Hoàn - Ḥa Tễ Cục phương).
+ Trị suyễn
do phong hàn: Bán hạ rửa sạch 7 cái, Chích cam thảo, Tạo giác (sao) mỗi thứ
8g, Gừng 2 lát, sắc với 1 chén rưỡi nước c̣n 7 phân, uống nóng (Thiên Môn Thang
- Ḥa Tễ Cục phương).
+ Trị đàm
nhiều, định chí, an thần, lợi đầu mắt: Bán hạ khúc 120g, Thiên nam tinh ngâm
nước sôi 40g, Thần sa, Khô phàn mỗi thứ 20g. Tất cả tán bột, trộn với nước gừng
làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên khi ăn cơm, với nước gừng
(Thần Sa Hóa Đàm Hoàn - Ḥa Tễ Cục phương).
+ Trị ăn
thức ăn lạnh vào, mửa ra do đàm đ́nh trệ lại bên trong: Bán hạ, Trần b́, Quất b́
mỗi thứ 40g. tán bột. Mỗi lần dùng 16g, gừng sống 7 lát, 2 chén nước, sắc c̣n 1
chén, uống nóng (Quất B́ Bán Hạ Thang - Ḥa Tễ Cục phương).
+ Trị đàm
đ́nh lưu lại làm ngực đầy tức, thở ngắn, uốn nôn, ăn không xuống hoặc mửa ra
đàm: Bán hạ rửa 200g, Phục linh 120g. Tán bột. Mỗi lần dùng 16g, thêm gừng 7
lát, sắc với 1 chén nước, c̣n 7 phân, uống nóng (Phục Linh Bán Hạ Thang - Ḥa Tễ
Cục phương).
+ Trị trúng
nắng, giải khát, tỳ vị không điều ḥa: Bán hạ (nấu giấm) 1 cân, Phục linh nửa
cân, Cam thảo (sống) nửa cân, tán bột, trộn nước gừng và miến làm viên, to bằng
hạt ngô đồng lớn. mỗi lần uống 50 viên với rượu nóng (Tiểu Thử Hoàn - Ḥa Tễ
Cục phương).
+ Trị bón
thuộc khí hư, người ǵa bón, bón do lạnh: Bán hạ ngâm, rửa, sao, Lưu hoàng sống,
2 vị bằng nhau. Tán bột, trộn với nước gừng làm viên, to bằng hạt ngô đồng.
Mỗi lần uống 50 viên với rượu nóng, lúc đói (Bán Lưu Hoàn - Ḥa Tễ Cục phương).
+ Trị phong
cùi rụng lông mày: Bán hạ (sống), cứt Dê đốt khô, 2 vị này bằng nhau tán bột,
trộn với nước gừng bôi hàng ngày (Thánh Tế Tổng Lục).
+ Trị ho đàm
do phế nhiệt: Bán hạ (chế), Qua lâu nhân, mỗi thứ 40g. Tán bột, trộn với nước
gừng làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi ngày uống 30 viên hoặc lấy nước sắc
của Qua lâu uống nóng (Tế Sinh phương)
+ Trị phong
đàm của người lớn tuổi, phế nhiệt, đàm không thông, tạng phủ nóng quá không
tỉnh người: Bán hạ ngâm rửa 7 lần, sấy khô. Tiêu thạch 20g, trộn với bột gạo
trắng làm thành viên, to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 1 muỗng canh với nước
gừng (Phổ Tế phương).
+ Trị ngực
bị nghẹt v́ phong đàm: Bán hạ nửa cân, ngâm 1 đêm với nước tương chua, rửa bằng
nước nóng nhiều lần để loại bỏ khí độc đi, phơi nắng, rồi tán bột, trộn với nước
tương làm thành bánh, phơi khô rồi tán bột, cứ 200g cho vào 4g Long năo sống,
cho đến khi nước tương đặc dẻo, giở lên thấy có chân th́ làm viên to bằng quả
trứng gà, bỏ vào vải khâu lại, tránh gió, phơi khô. Mỗi lần uống với trà nóng
hoặc uống với nước sắc Bạc hà Ngựcï Dược Viện phương).
+ Trị trúng
phong đàm quyết: Bán hạ ngâm rửa nước sôi 320g, Chích cam thảo 80g, Pḥng phong
160g. Mỗi lần dùng 20g sắc với 20 lát gừng, uống (Tỉnh Phong Thang -Kỳ Hiệu
Lương phương).
+ Trị chóng
mặt do phong đàm, nấc cụt, hoa mắt, sắc mặt xanh vàng, mạch Huyền: Bán hạ sống,
Thiên Nam tinh sống, Hàn thủy thạch (nướng), mỗi thứ 40g, Thiên ma 20g, Hùng
hoàng 8g, bột Miến 120g. Tán bột, trộn với nước làm thành bánh. Nấu sôi cho nổi
lên th́ lấy ra gĩa nát, hồ làm viên, to bằng hạt ngô đồng lần uống 50 viên với
nước gừng. Có thể trị được chứng ho do phong đàm, đại tiểu tiện không thông, đau
đầu do phong đàm (Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị suyễn
do phong đàm, muốn nôn, chóng mặt: Bán hạ 40g, Hùng hoàng 12g. Tán bột, tẩm với
nước gừng làm viên to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước gừng.
Nếu đă mửa th́ thêm Binh lang (Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị đàm
kết không ra, tiếng nói không rơ, lâu năm không hết: Bán hạ 20g, Quế tâm xúc
chừng một đồng tiền, Thảo ô đầu 2g. Tất cả tán nhỏ, tẩm nước gừng làm thành viên
to bằng hạt súng. Mỗi lần dùng 1 viên, ngậm nuốt dần khi ngủ (Ngọc Phấn Hoàn
Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị ho do
nhiệt đàm, phiền nhiệt, mặt đỏ, miệng khô, đau tim, mạch
Hồng Sác: Bán hạ, Thiên nam tinh, mỗi thứ 40g, Hoàng cầm 60g, tán bột, tẩm nước
gừng làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 2 muỗng canh với nước gừng
sau khi ăn (Tiểu Hoàng Hoàn - Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị ho do
khí đàm, bệnh nhân mặt trắng bệch, sợ lạnh, thở nhanh, buồn rầu, mạch Sáp: Bán
hạ, Nam tinh mỗi thứ 40g, Quan quế 20g, tán bột, làm viên, to bằng hạt ngô đồng.
Mỗi lần uống 50 viên với nước gừng (Ngọc Phấn Hoàn - Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị phong
đàm, thấp đàm: Bán hạ 1 cân, Thiên nam tinh 20g, tất cả đều ngâm nước, phơi
nắng, tán bột, trộn nước gừng làm thành bánh, sấy khô. Dùng Thần khúc 20g, Bạch
truật 80g, Chỉ thực 80g, ḥa với bột miến và nước gừng làm thành viên to bằng
hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50 viên với nước gừng sống (Thanh Hồ Hoàn – Lâm
Chứng Chỉ Nam).
+ Trị đờm nhiều, ngực đầy: Bán hạ 1
cân, ngâm rửa 7 lần tán bột. Hễ dùng Bán hạ 40g th́ dùng 4g Thần sa, ḥa với
nước gừng làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 1
muỗng canh với nước gừng (Thần Sa Bán Hạ Hoàn - Tụ Trân phương).
+ Trị ho do
nhiệt đàm ở thượng tiêu: Bán hạ (chế qua) 40g, Hoàng cầm bột 8g, hồ với nước
gừng làm viên, to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 70 viên với nước gừng, sau
bữa ăn (Tụ Trân phương).
+ Trị đờm
nhiều do rượu, ngực đầy trướng khó chịu: Bán hạ sống, rửa xong, sấy khô, tán
bột. Trộn với nước gừng làm thành bánh, rồi lấy giấy ướt đó gói lại nướng cho
thơm, lấy 2 bát nước chín với 8g bánh, trộn với 2 phân muối, sắc c̣n 1 chén,
uống (Đẩu Môn phương).
+ Trị đờm
nhiều do rượu: Bán hạ, Thiên nam tinh mỗi thứ 80g, tán bột, dùng 5 bát nước cho
vào chậu sành ngâm 1 đêm, đổ nước đi, sấy khô, tán bột. Mỗi lần dùng 8g sắc
với 3 lát gừng, uống (Kinh Nghiệm phương).
+ Trị đau
tim do thấp đàm, suyễn cấp: Bán hạ khúc, sao, tán bột, trộn với nước cháo lỏng
làm viên, to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 20 viên với nước gừng (Đan Khê Tâm
Pháp).
+ Trị thương
hàn: Bán hạ 16g, Gừng sống 7 lát, sắc với 1 chén rượu (Hồ Hiệp Cư Sĩ Bách Bệnh
phương).
+ Trị thương
hàn ợ khan: Bán hạ chế, tán bột. Mỗi lần uống 4g với nước gừng (Mai Sư phương).
+ Trị trẻ
nhỏ tiêu chảy, nôn mửa do tỳ vị hư hàn: Bán hạ ngâm rửa 7 lần, Trần thương mễ,
mỗi thứ 4g, gừng sống 10 lát, sắc uống nóng (Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết).
+ Trị trẻ
nhỏ hay mửa ra đàm, ho phát sốt, ăn vào nôn ra: Bán hạ (ngâm rửa) 280g, Đinh
hương 4g. Lấy Bán hạ trộn với nước, bọc Đinh hương, rồi lấy miến làm bánh bao
ngoài, đem nướng cho chín, xong chỉ lấy Bán hạ và Đinh hương trộn với gừng làm
viên, to bằng hạt mè. Mỗi lần uống 20-30 viên với nước Trần b́ (Hoạt Ấu Khẩu
Nghị).
+ Trị trẻ
nhỏ bụng đầy: Bán hạ tán bột, trộn với rượu làm viên to bằng hạt thóc. Mỗi lần
uống 2 viên với nước gừng, nếu không thấy đỡ, lấy lửa sao nóng, tán bột, trộn
nước gừng đắp lên rốn (Tử Mẫu Bí Lục phương).
+ Trị suyễn,
tiểu không thông, vàng da: Bán hạ, gừng sống mỗi thứ nửa cân, sắc với 7 chén
nước c̣n 1 chén rưỡi, chia làm 3 lần uống (Trọng Cảnh phương).
+ Trị thở
mệt do mất huyết, suyễn, nôn ra đàm, đầy ứ bên trong: Bán hạ gĩa bẹp ra, lấy
nước gừng ḥa với miến, nướng vàng, tán bột, làm thành viên, to bằng hạt ngô
đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước đun sôi (Trực Chỉ phương).
+ Trị bạch
trọc, di tinh, mộng tinh: Bán hạ rửa 10 lần, xắt nhỏ, lấy Mộc trư linh 80g, tất
cả sao vàng để hết hỏa độc, song bỏ Trư linh. thêm Mẫu lệ (sao qua) 40g. tán
bột. Lấy Sơn dược làm hồ, trộn thuốc bột làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi
lần uống 30 viên với nước Phục linh (Bản Sự phương).
+ Trị các
loại đau nhức ở đầu: Bán hạ tán nhỏ, 1 chút Bách thảo sương, lấy giấy cuốn thuốc
vào đốt xông khói vào mũi, trong miệng phải ngậm nước. Khi có đờm dăi ra th́ súc
miệng ngậm nước khác (Vệ Sinh Bảo Giám).
+ Trị cuống
họng liệt, họng sưng nghẹt: Bán hạ (sống), tán bột thổi vào mũi, khi nào có nhớt
dăi ra là có hiệu quả (Tập Giản phương).
+ Trị trên
mặt phong nám đen: Bán hạ sấy khô, nghiền, dùng giấm gạo bôi vào, bôi 3 ngày
liền từ sáng đến chiều tối rồi dùng nước sắc Tạo giác mà rửa, kiêng gió (Trích
Huyền phương).
+ Trị sinh
đẻ mà rặn quá làm cho ruột sa xuống (Bàn trường sa): Bán hạ tán bột, thổi vào
mũi nhiều lần có thể kéo lên được (Phụ Nhân Lương phương).
+ Trị sản
hậu chóng mặt: Bán hạ tán bột, trộn với nước làm viên, to bằng hạt ngô đồng,
nhét vào trong lỗ mũi (Trửu Hậu phương).
+ Trị trẻ
nhỏ động kinh: Bán hạ (sống) 4g, Tạo giác 2g. tán nhuyễn, thổi 1 chút vào mũi
th́ tỉnh (Thế Kinh Tán - Trực Chỉ phương).
+ Cứu các
chứng chết đột ngột như: Thắt cổ, vật ǵ đè mà chết, ma quỷ đè mà chết, chết
đuối: lấy Bán hạ tán bột, bỏ vào mũi bằng hạt đậu xanh (Tử Mẫu Bí Lục phương).
+ Trị vú
sưng, cho con bú mà núm vú sưng: Bán hạ 4g, nướng rồi nghiền, uống với rượu (Lưu
Trường Xuân Kinh Nghiệm phương).
+ Trị vú
sưng, cho con bú mà núm vú sưng: dùng bột Bán hạ tùy theo bên đau mà thổi vào
mũi (Lưu Trường Xuân Kinh Nghiệm phương).
+ Trị dộp
phỏng chân v́ đi đường xa: Dùng bột Bán hạ trộn nước bôi vào (Vĩnh Loại Kiềm
Phương).
+ Trị bị vật
sắc đâm vào trong thịt không ra được:Bán hạ, Bạch liễm 2 vị bằng nhau, tán bột,
uống một muỗng canh với rượu, ngày 3 lần, liên tục 20 ngày (Lư Thuyên Đại Bạch
Kinh phương).
+ Trị côn
trùng bay vào lỗ tai: Bán hạ trộn dầu mè xức ngoài lỗ tai (Bản Sự phương).
+ Trị Bọ
cạp, Ong đốt, dùng Bán hạ tán bột trộn nước xức vào (Tiền Tướng Công Khiếp Trung
phương).
+ Trị bất
tỉnh đột ngột: Bán hạ tán bột thổi vào mũi (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị lưỡi
sưng cứng, lưỡi sưng lớn đầy miệng: Bán hạ sắc với giấm rồi súc miệng (Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị lưỡi
sưng cứng, lưỡi sưng lớn đầy miệng: Bán hạ 20 củ nấu qua, sắt lát, khi sao lấy
rượu tẩm vào, có mật ong lại càng tốt, ngậm khi nóng, nguội lại thay (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị trẻ
con thóp trước bị hở (do lănh khí): lấy nước trộn với Bán hạ đắp dưới ḷng Bàn
chân (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tham
khảo:
+ Khi dùng
Bán hạ phải đem ngâm nước nóng chừng nửa ngày cho hết nhớt nếu không sẽ c̣n độc
uống vào ngứa cổ không chịu được, trong các Bài thuốc người ta thường dùng Bán
hạ kèm theo Sinh khương v́ Sinh khương chế được độc của nó (Bản Thảo Cương Mục).
+ Công dụng
Bán hạ rất nhiều nhưng chủ yếu là tiêu đàm nhưng chủ yếu cốt là chữa khí nghịch
nhưng có chất táo chứng ho mà đàm sáp không nên dùng, sở dĩ lợi được tiểu tiện
là cốt ở chỗ chữa khí kiệt mà làm cho khí thông lợi. Chữa về bệnh ǵ cũng một mẻ
là thông khí và giáng khí nhất là chứng mửa th́ rất thường dùng, v́ lạnh hợp với
thuốc ấm (ôn), nóng hợp với thuốc mát (lương), bệnh ǵ có chứng
mửa là dùng được. Đàn bà có thai phải kiêng dùng Bán hạ,
nhưng nếu có chứng mửa vẫn có thể cho uống được (Bách Hợp).
+ Uông Cơ
nói rằng: Tỳ vị thấp nhiệt nước dăi hóa thành đờm không có Bán th́ không chữa
được, nếu thay bằng Bối mẫu th́ chỉ ngửa đầu chịu chết mà thôi, Lư Thời Trân
cũng nói rằng: Tỳ không có thấp lưu trệ lại th́ không có đờ, cho nên tỳ là nguồn
sinh ra đờm. Bán hạ trị được đờm là v́ thế, chất nó trơn hoạt vị cay tính ấm,
trơn hoạt th́ nhuận, cay ấm th́ tán mà cũng nhuận được cho nên hành được thấp mà
không thông đại tiện, lợi khí cũng tiết tiểu tiện, v́ thế nói vị cay th́ tán
khí, hóa như vậy. Đơn khê bảo Bán hạ có khả năng làm cho đại tiện nhuận mà tiểu
tiện dài. Thành vô kỷ nói: Bán hạ hành thủy khí mà nhuận thận táo. Bài “Bán Lưu
Hoàn” của sách “Cục phương” chính người ǵa hư bế là dùng vào tính trơn nhuận
của nó. Tục thường cho Bán hạ là táo, không biết rằng lợi thủy trừ thấp mà làm
cho thổ táo chứ không phải tính nó táo vậy. Có điều không phải là chứng tà khí
thấp nhiệt mà dùng nó th́ lại làm cho mất tân dịch thêm, thực không thích hợp.
Trường hợp nên dùng th́ cứ dùng đúng như Nội Kim đă dạy: Nên phạm th́ cứ phạm
cũng như không phạm. Người xưa dùng Bán hạ có 3 điều cấm là: Bệnh huyết, bệnh
khát, và bệnh ra mồ hôi nhưng nó có công ngăn trị được nôn mửa, là thuốc của
trúc dương minh, trừ đàm là thuốc của Túc thiếu dương, Giúp hoàng cầm chủ về
chừng sợ lạnh, th́ lại ra thuốc của Túc thiếu dương, giúp Hoàng cầm chủ về trừ
nóng th́ lại là thuốc của Túc dương minh, nóng rét qua lại khoảng bán biểu, bán
lư cho nên dùng Bán hạ trong trường hợp này là có nghĩa được một nửa (Dược Phẩm
Vậng Yếu).
+ Cũng có
chứng hư hàn mà nôn mửa, nhất thiết không được dùng Bán
hạ, Trần b́, v́ hễ dùng nó ắt ra mồ hôi mà vong dương (Y Trung Quan Miện – Hải
Thượng Y Tông Tâm Lĩnh).
Lịch sử: Thiên ‘Nguyệt Lệnh’ (sách ‘Lễ Kư’), ghi rằng: Vị thuốc này sinh ra giữa mùa
hè nên gọi là Bán hạ (Bán: nửa, Hạ: mùa hè)
Phân
biệt:
(1) Căn cứ
vào báo cáo nghiên cứu năm 1960 của trại cây trồng thuốc Nam Xuyên th́ h́nh thái
của cây Bán hạ thay đổi rất lớn, qua điều tra sơ bộ có thể chia làm 4 loài:
a-Cây Bán Hạ
Phổ Thông: Cây to cao, lá đơn h́nh kim ph́nh ở giữa, màu xanh
sẫm, nhánh chồi mọc ở dưới cuống lá.
b- Cây Bán
Hạ Lá Rộng: Cây tương đối thấp bé, phiến lá đơn h́nh bầu dục, màu xanh nhạt,
nhánh chồi mọc ở mé trong phần dưới cuống lá.
c- Cây Bán
Hạ Nhành Chồi: Cây tương đối thấp bé, lá đơn h́nh bầu dục, màu xanh nhạt, nhánh
chồi mọc ở phần gốc, cuống lá có 3 lá kép.
d- Cây Bán
Hạ Lá Dài: Cây cao và nhánh trồi mọc trên cuống lá cũng giống như nhánh chồi của
cây Bán hạ lá rộng, nhưng có 5 lá đơn, lá giữa khá to. Trong 4 loài trên, thường
thấy nhất là loài phổ thông và lá rộng nhưng sản lượng của loài nào cao nhất,
chất lượng tốt nhất cần phải nghiên cứu thêm.
(2) Cần phân
biệt với cây Bán hạ nam c̣n gọi là củ tróc (Typhonium trilobatum Schott).
(3) Cũng cần phân biệt với cây Thiên nam tinh hay củ Nưa (Arisaema consanguineum
Schott., Arisaema balansae Engl.. Arisaema petiolulatum Gagnep) có thân rễ h́nh
củ tṛn hơi giống h́nh Bán hạ bắc nhưng lớn hơn, đường kính khoảng 5cm được dùng
làm thuốc có tác dụng an thần, giảm đau tiêu đàm, dùng tươi đắp ngoài chữa sưng
tấy nhọt độc (Dqnh Từ Dược Vị Đông Y).
| | |