| |
CAM THẢO

Xuất xứ:
Bản Kinh.
Tên khác:
Quốc lăo, Linh thảo, Lộ thảo (Bản Kinh), Mỹ thảo,
Mật cam (Biệt Lục), Thảo thiệt (Thiệt Tịch Thông Dụng Giản Danh), Linh thông (Kư
Sự Châu), Diêm Cam thảo, Phấn cam thảo (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Điềm
căn tử (Trung Dược Chí), Điềm thảo (Trung Quốc Dược Học Thực Vật Chí),
Phấn thảo (Quần Phương Phổ), Bổng thảo (Hắc Long Giang Trung Dược), Cam thảo bắc
(Dược Liệu Việt Nam).
Tên gọi:
Cam có nghĩa là ngọt, thảo là cây cỏ. Cam thảo là
cây có vị ngọt, v́ vậy được dùng để gọi tên.
Tên khoa học:
Glycyrrhiza uralensis Fisch.
Họ khoa học:
Họ Cánh Bướm (Fabaceae).
Mô tả:
Cam thảo lâu năm cao từ 0,5-1m, nhẵn, mọc đứng
khỏe, có gốc hóa mộc, có thân ḅ kéo dài, lá kép lông chim gồm 4-8 đôi lá chét
h́nh bầu dục hoặc thuôn, nguyên hơi dính ở mặt dưới, lá kèm rất nhỏ. Hoa màu
xanh lơ hoặc tím, hơi nhỏ, nhiều, thành chùm dạng bông h́nh trụ, trên những
cuống ở nách chỉ bằng nửa của lá. Đài có lông tuyến, h́nh ống, gù lên ở gốc, có
hai môi chia 5 răng hơi không đều, h́nh mũi mác dài hơn ống, cánh cờ dựng lên,
thuôn, dài hơn các cánh bên. Nhị hai bó (9+1). Bầu không cuống, 2 đến nhiều
noăn, đầu nhụy nghiêng. Quả cong rất dẹt, mặt quả có nhiều lông. Hạt 2-4, h́nh
lăng kính.
Địa lư:
Hiện nay ở Hoa bắc, Tây bắc, Đông bắc Trung Quốc
đều có xản xuất nhiều và chất lượng tốt hơn cả, nhất là Dân Cần, Khánh Dương,
Trấn Nguyên tỉnh Cam Túc, Dân Biên tỉnh Thiểm Tây, Dương Cao, Ôn Minh tỉnh Sơn
Tây, Kiến B́nh, Bắc Tiêu, Phú Tân tỉnh Liêu Ninh, chuyên khu Bạch Thành tỉnh Cát
Lâm, Triệu Châu, An Đạt tỉnh Hắc Long Giang, chuyên khu Trương Gia khẩu tỉnh Hà
Bắc và ở Thanh Hải, Tân Cương sản xuất rất nhiều (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển).
Cây đă được
di thực trồng ở miền bắc Việt Nam.
Thu hái, sơ chế:
Vào tháng 2-8 đào rễ phơi khô, mùa thu đông tốt
hơn. Sau khi đào về xếp thành đống, để cho lên hơi men làm cho rễ có màu vàng
sẫm hơn cho đẹp.
Phần dùng làm thuốc:
Rễ hoặc thân rễ phơi hay sấy khô (Radix
Glycyrrhizae).
Mô tả dược liệu:
Rễ cam thảo h́nh trụ tṛn không phân nhánh,
thẳng, dài khoảng 30cm, đường kính 0,8-2cm. Mặt ngoài màu nâu đất hay đỏ nâu, có
nhiều nếp nhăn dọc và lỗ vỏ nằm ngang lồi lên, lưa thưa có vết của rễ con. Mặt
bẻ có sợi. Mặt cắt ngang màu vàng nhạt, để lộ lớp bần mỏng, tầng sinh gỗ và tia
tủy tỏa tṛn. Mùi đặc biệt, vị ngọt dịu (Dược Tài Học).
Bào chế:
- Sinh thảo:
Rửa sạch nhanh đồ mềm, xắt thành lát mỏng 2mm, khi c̣n nóng nếu không kịp xắt
th́ nhúng ngay vào nước lạnh, ủ mềm cho dễ xắt, rồi sấy
hoặc phơi khô (Trung Dược Đại Từ Điển).
- Chích
thảo: Sau khi sấy khô rồi tẩm mật ong (cứ 1kg Cam thảo phiến th́ dùng 200g mật
pha thêm 200ml nước đun sôi), tẩm rồi sao vàng cho thơm. Hoặc nếu dùng ít, có
thể cắt khúc 5-10cm cuộn vài lần giấy bản nhúng qua nước sôi cho đủ ướt, vùi vào
tro nóng, khi thấy giấy khô hơi sém th́ bỏ giấy, xắt lát mỏng (Trung Dược Đại Từ
Điển).
- Bột cam
thảo: Cạo sạch vỏ ngoài xắt miếng tṛn sấy khô tán thành bột mịn.
+ Khi dùng
Cam thảo nếu dùng rượu tẩm chưng từ giờ tỵ (9-11g) đến giờ ngọ (11 – 13g) rồi
lấy ra phơi nắng, gĩa nát để dùng (Lôi Công Bào Chích Luận) hoặc xắt lát lấy sữa
tẩm rồi sao gịn, đỏ, vàng mà dùng (Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Chích Cam
thảo đều dùng nước chảy ḍng sông sao tẩm đến khi nóng vàng, khử đỏ đi là được
hoặc dùng nước tương sao nóng, không có sữa tô để sao th́ chưng với rượu (Trung
Dược Đại Từ Điển).
+ Theo kinh
nghiệm bào chế của Trung Quốc ngày xưa có 3 cách thức:
a) Phấn cam
thảo: Cạo sạch vỏ, ngâm rượu độ 1 giờ, ủ độ 12 giờ, xắc mỏng chừng 2 ly. Phơi
khô.
b) Lăo cam
thảo: ngâm nước độ 4 giờ (mùa đông 8 giờ) ủ kín cho mềm xắt mỏng phơi khô.
c) Chích cam
thảo: Rửa qua ủ mềm, xắt mỏng lấy mật ong cho thêm một phần nước sôi tẩm vào Cam
thảo vớt ra một lúc sao vàng không dính tay là đạt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển).
Cách
dùng: Dùng sống có tác dụng thanh hỏa trong những chứng đau họng, đinh nhọt.
Dùng chích (sao mật) có tác dụng bổ trung chữa những chứng tỳ hư ỉa lỏng, vị hư
khát nước, phế hư mà ho. Tẩm mật sao có tác dụng nhuận bổ.
Bảo quản:
Để nơi khô ráo, kín gió.
Thành
phần hóa học:
+ Trong Cam Thảo có Glycyrrhetinic
acid Glycyrrhizin, Uralenic acid, Liquiritigenin, Isoliquitigrenin, Liquiritin,
Neoliquiritin, Neoisoliquiritin, Licurazid (Trung Dược Học).
+
Glycyrrhizin, 18b-Glycyrrhetic
acid, Glucuronic acid, Glycyrrhizic acid (Lâu Chi Sầm, Dược Học Học Báo 1954, 2: 121).
+
Uralsaponin (Trương Như Ư, Dược Học Học Báo 1986, 21)7): 510).
+
Licorice-Saponin A3, B2, C2, D3, E2, F3, G2, H2, J2, K2 (Lsao Kitagawa và cộng
sự, Chem Pharm Bull 1988, 36 (9): 3710).
+
Liquiritigenin, Liquiritin, Isoliquiritigenin, Isoliquiritin, Neoliquiritin,
Neoisoliquiritin (Litvinenko V I và cộng sự, C A 1956, 62: 8286b).
Tác dụng
dược lư:
+ Tác dụng giải độc: Thuốc có tác dụng
giải độc đối với rất nhiều loại thuốc và độc tố, như Chloralhydrat,
Physostigmin, Acetylcholin, Pilocarpin (Những Cây thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Giải các loại Barbituric, Histamin
(Trung Dược Học).
+ Tam Hảo Anh Phu báo cáo: Muối Kali và
Canxi của axit Glyxyrizic có tác dụng giải độc rất mạnh đối với độc tố của Bạch
hầu, chất độc của cá, lợn, nọc rắn, hiện tượng choáng (Những Cây Thuốc Và Vị
Thuốc Việt Nam).
+ Cửu Bảo Mộc Hỉến và Tinh Kỳ Ḥa Tử (Nhật
Bản 1954) đă báo cáo chất Glyxyrizin có khả năng giải độc ngộ độc do Stricnin.
Các tác giả c̣n cho biết khả năng giải độc của Cam thảo có liên quan đến sự thủy
phân Glyxyrizin ra axit Glycuronic (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Năm 1953, Otto Gessner và năm 1956, Từ Tá
Hạ, Diệm Ứng Cử và Bi Tây B́nh báo cáo trong Trung Hoa Y Học tạp chí (8:
(755-766) là Cam thảo có tác dụng giải độc đối với độc tố uốn ván (Những Cây
Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Chất Glyxyridin có tác dụng chống các hóa
chất gây ung thư gan, có tác dụng bảo vệ gan chống các loại thuốc hại gan như
Carbon tetra chloride... Chất Glyxyridin c̣n có tác dụng hút các chất độc nhưng
Cam thảo không có tác dụng giải độc với Atropin,
Mocphin, Stibium, lại có tác dụng tăng độc
tính nhẹ đối với Ephedrin và Adrenalin (Trung Dược Học).
+ Tác dụng chỉ khái, hóa đàm: Tác dụng chỉ
khái có quan hệ đến thần kinh trung ương, Cam thảo kích thích xuất tiết của hầu
họng và khí quản, làm cho loăng đàm (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Tác dụng như loại Cocticoit: Cam thảo có
tác dụng giữ nước và muối NaĆ trong cơ thể, bài thải Kali gây phù, làm tăng
huyết áp (Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1956, 42 770-773) (Hiện Đại Trung Y Nội Khoa
Học).
+ Tác dụng chống loét đường tiêu hóa: Trên
thực nghiệm súc vật, cao lỏng, nước chiết xuất Cam thảo đều có tác dụng chống
loét, ức chế tiết axit dịch vị do có tác dụng ức chế Histamin, làm vết loét
chóng lành (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
+ Tác dụng chống co thắt đốí với cơ trơn
ống tiêu hóa (Dược Học Học Báo 1963, 10 (11): 688-698).
+ Năm 1956, H. Berger và H. Holler đă thí
nghiệm so sánh nước Cam thảo với tác dụng của Papaverin clohydrat th́ thấy kết
quả là l/450 và l/3100 (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Tác dụng nội tiết tố dục tính: Năm 1950,
Christopher H. Costello (J. Amer Pharmaceut ASS) đă báo cáo trong Cam thảo có
chất tác dụng như nội tiết tố dục tính đối với âm đạo chuột bạch (Những Cây
Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Tác dụng kháng khuẩn: Cồn chiết xuất Cam
thảo và Glycuronic acid (in vitro) có tác dụng ức chế các loại tụ cầu vàng, trực
khuẩn lao, trực khuẩn Coli, Amip và Trichonomas. Cam thảo c̣n có tác dụng kháng
viêm, thành phần kháng viêm chủ yếu là Glycirisin và Glycuronic acid. Trên mô
h́nh gây phản ứng dị ứng cho chuột Hà Lan, thuốc có tác dụng ức chế với mức độ
khác nhau. Các tác giả cho rằng tác dụng kháng viêm và chống dị ứng của thuốc là
do tác dụng làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch, kháng Histamin và làm giảm
tính phản ứng của tế bào đối với kích thích (Trung Dược Học).
+ Tác dụng đối với khả năng thực bào của tế
bào thực bào ổ bụng của chuột nhắt nếu chuột ở trạng thái
bị kích thích, tức là khả năng đề kháng của cơ thể yếu, Cam thảo có tác dụng làm
tăng khả năng thực bào; C̣n nếu chuột ở trạng thái yên tĩnh th́ thuốc lại có tác
dụng ức chế. Điều này cho thấy tác dụng bổ của Cam thảo xẩy ra khi cơ thể suy
yếu, c̣n lúc khỏe th́ ảnh hưởng không tốt. Một chất chiết xuất từ Cam thảo gọi
là LX (là một Glucoprotein khác với Glycuronic acid) chích vào tĩnh mạch chuột
nhắt sẽ làm giảm số tế bào có tác dụng miễn dịch và sinh kháng thể, tức là ức
chế tác dụng miễn dịch (Trung Dược Học).
+ Glyxyrisin của Cam thảo có tác dụng làm
hạ mỡ rơ rệt, nhưng không có tác dụng pḥng xơ mỡ động mạch (Trung Dược Học).
+ Cam thảo cùng dùng với Sài hồ có tác
dụng chống thoái hóa mỡ ở gan (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Cam thảo
c̣n có tác dụng giải nhiệt, chống lợi niệâu và trên thực nghiệm có tác dụng
chống rối loạn nhịp tim (Trung Dược Học).
Độc tính: Độc tính của Cam thảo rất thấp. Cao lỏng
Cam thảo cho chuột lớn và thỏ uống trong 40 ngày theo dơi nhiễm độc bán cấp, đă
phát hiện cân nặng tăng, tuyến thượng thận hơi teo và chức năng giảm. Cam thảo
uống liều cao xuất hiện bụng đầy, kém ăn và rối loạn tiêu hóa. Chất thủy phân
Glyxyrisin có tác dụng dung huyết (Trung Dược Học).
+ Có tác dụng trị bênh Addison v́ trong Cam
thảo có acid Glycyretic cấu tạo gần như Cortison v́ thế có tác dụng trên sự
chuyển hóa các chất điện giải, giữ Natri và Clorua trong cơ thể, giúp sự bài
tiết Kalium (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
+ Việc phối hợp liều nhỏ Cimetidine và Cam
thảo đă loại trừ Glycyrrhizin, thí nghiệm trên tổn thương niêm mạc dạ dày, đă
làm giảm độc tính của Cimetidin và có tác dụng tốt điều trị loét dạ dày, tá
tràng (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Tính vị:
+ Vị ngọt,
tính b́nh (Bản Kinh).
+ Không độc
(Biệt Lục).
+ Sống: vị
ngọt, tính b́nh; Chích: vị ngọt, tính ôn (Trân Châu Nang).
+ Vị ngọt,
tính b́nh, không độc [sau khi sao với mật th́ có tính ấm] (Trung Dược Học).
Quy kinh:
+ Vào kinh túc Quyết âm Can, túc Thái
âm Tỳ, túc Thiếu âm Thận (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Vào kinh
Tâm, Tỳ (Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Vào kinh
thủ Thái âm Phế, túc Thái âm Tỳ (Bản Thảo Kinh Giải).
Tác dụng:
+ Kiện cân
cốt, trưởng cơ nhục, bội lực, giải độc (Bản Kinh).
+ Ôn trung,
hạ khí, chỉ khát, thông kinh mạch, lợi khí huyết, giải độc bách dược (Biệt Lục).
+ An hồn,
định phách, bổ ngũ lao, thất thương, thông cửu khiếu, lợi bách mạch, ích tinh,
dưỡng khí (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+
Thông hành 12 kinh, có thể ích khí, hoăn cấp, giải độc, nhuận phế (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).
+ Bổ trung,
ích khí, nhuận Phế, chỉ khai, hoăn cấp, chỉ thống, thanh nhiệt, giải độc (Trung
Dược Học).
Chủ trị
liều dùng:
+ Trị Tỳ vị
suy nhược, Táo nhiệt thương tổn tân dịch, ho khan, họng đau, họng viêm, đinh
nhọt sưng độc, trúng độc, Cam thảo sảo (Mút cam thảo) cầm được tiểu đau rát
(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị Tỳ Vị
hư yếu, Tâm khí hư, mạch Kết, mạch Đại, ho suyễn, họng sưng đau,
giải độc thuốc, thức ăn, đau cấp, hoăn (Trung Dược Học).
Liều dùng:
Dùng 4g- 80g.
Kiêng kỵ:
+ Tỳ vị thấp
trệ mà trong bụng đầy ứ th́ cấm dùng (Trung Dược Học).
+ Phản Đại
kích, Cam toại, Nguyên hoa, Hải tảo (Bản Thảo Kinh Giải).
+ Ghét Viễn
chí, kỵ thịt heo có thể làm yếu sinh lư, không nên ăn với cá biển (Bản Thảo Kinh
Giải).
+ Bạch
truật, Khổ sâm, Can tất làm sứ cho nó (Bản Thảo Kinh Giải).
+ Thấp thịnh (bụng
đầy, nôn, phù trướng...): không nên dùng (Trung Dược Học).
+ Trường hợp muốn lợi tiểu, trừ thấp, thông
hạ cần có tác dụng th́ nhanh không nên phối hợp với Cam thảo (Trung Dược Học).
Đơn thuốc
kinh nghiệm:
+ Trị di
chứng sau khi thương hàn, do huyết hư làm cho tâm hay hồi hộp: Chích thảo 80g
sắc với 3 thăng nước sắc c̣n 1 thăng rưỡi, uống nóng, ngày 2 lần (Thương Hàn
Luận).
+ Trị tâm khí huyết bất túc sinh chứng mạch
Kết mạch Đại (rối loạn nhịp tim): Chích Cam thảo 16g, Thục đỉa 30g, Mạch môn, A
giao, Ma nhân, Đảng sâm, Quế chi mỗi thứ 12g, Sinh khương 12g, Đại táo 4 quả,
sắc uống. Bài thuốc có tác dụng kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí, bổ huyết (Chích Cam Thảo Thang (Phục Mạch Thang): Thương Hàn Luận).
+ Trị họng
đau do phế nhiệt, có đàm, dùng Cam thảo sảo 80g, Cát cánh (tẩm 1 đêm với nước
mă, 40g, mỗi lần uống 20g, 1 chén rưỡi nước bỏ nửa cân A giao vào sắc uống (Tiền
Ất Chân Quyết Phương).
+ Trị Phế
nuy, hay chảy ra nhiều nước dăi, hoặc mửa ra dăi nhớt, váng đầu, hoa mắt, tiểu
nhiều lần nhưng không ho là do trong phế bị hàn: Cam thảo chích 160g, Can khương
sao 80g, 3 chén nước sắc c̣n 1 chén rưỡi, chia ra uống nóng (Cam Thảo Can Khương
Thang - Thương Hàn Luận).
+ Trị trẻ em
cấm khẩu: Cam thảo sống 10g, sắc với 1 chén nước c̣n 7 phân, uống nóng, đợi khi
mửa đàm nhớt ra th́ nhỏ sữa vào miệng (Kim Qũy Phương).
+ Trị trẻ
nhỏ trúng độc: Cam thảo 20g, sắc với 1 chén nước c̣n 5 phân, uống khi nào mửa
th́ thôi (Kim Quỹ Phương).
+ Trị ăn
trúng phải vật độc chưa biết loại ǵ, trước hết chưa có thuốc thang ǵ nên sắc
Cam thảo với Tề ni cho uống (Kim Quỹ Phương).
+ Trị say cà
độc dược làm bệnh nhân cuồng loạn như trúng gió hoặc mửa, dùng Cam thảo sắc uống
để giải (Kim Quỹ Phương).
+ Trị âm đầu
lở: Cam thảo sao, tán bột, xức vào nhiều lần là khỏi (Thiên Kim Phương).
+ Trị ngộ
độc thị trâu hay ḅ: Cam thảo sắc uống hoặc nấu rượu th́ mửa hoặc hạ là tốt, nếu
khát nước đừng uống, uống vào th́ chết (Thiên Kim Phương).
+ Trị hăm
ngứa dưới bộ hạ: Cam thảo, sắc rửa hàng ngày 3-5 lần (Cổ Kim Lục Nghiệm Phương).
+ Trị da
thịt nứt nẻ v́ lạnh: sắc nước Cam thảo rửa, rồi lấy Hoàng liên, Hoàng bá, Hoàng
cầm, tán bột, trộn dần vào một chút Kinh phấn, xức vào (Đàm Dă Ông Thí Hiệu
Phương).
+ Trị ho lâu
năm v́ phế nuy, chảy nước dăi đờm ra nhiều, xương cốt bải hoải, khi nóng khi
lạnh: Cam thảo 120g nướng, tán thành bột, mỗi lần uống 4g với nước tiểu trẻ con
(Quảng lợi phương).
+ Trẻ em ho
nhiệt: Cam thảo 80g ngâm nước mật heo 5 đêm, sao khô, tán bột viên mật ong bằng
hạt đậu xanh, uống mỗi lần 10 viên với nước sắc Bạc hà, sau khi ăn (Lương Cách
Hoàn - Thánh Huệ Phương).
+ Trị lưỡi
sưng nghẹt cả miệng: Cam thào sắc thật đặc, uống nóng, làm thế nào cho mửa ra
được (Thánh Tế Tổng Lục).
+ Trị trẻ sơ
sinh bí tiểu, bí đại tiện: Cam thảo, Chỉ xác mỗi thứ 4g sao sắc với nửa chén
nước (Toàn Ấu Tâm Giám Phương).
+ Trị trẻ
nhỏ đái dầm: Cam thảo sắc uống hằng đêm (Thế Y Đắc Hiệu Phương).
+ Trị trẻ
nhỏ đái ra máu: Cam thảo 40g sắc với 2,6 chén nước sắc c̣n 2 chén, liều này
dùng cho trẻ con 1 tuổi uống trong ngày (Diêu Ḥa Chúng Chí Bảo phương).
+ Trị trẻ
nhỏ gầy ốm: Cam thảo 120g, sao đen tán bột, trị người lớn gầy g̣, ốm o dùng Cam
thảo 120g (sao), mỗi sáng lấy nước tiểu trẻ con đun sôi uống (Mai Sư phương).
+ Trị xích
bạch lỵ: Cam thảo một thước (tàu), xắt ra, sắc với một thăng nước tương c̣n 7
chén, uống (Mai Sư phương).
+ Trị trẻ em
trong tháng mắt mở không ra: Cam thảo 4g, sao với nước mật heo rồi tán bột, uống
một chút với nước cơm (Ấu Ấu Tân Thư).
+ Trị lở
miệng do Thái âm, dùng Cam thảo 2 tấc, Bạch phàn một miếng lớn, nhai nuốt nước
(Bảo Mệnh Tập).
+ Trị ung
thư, phát bối: Cam thảo 120g, gĩa nát, bột Đại mạch 360g, trộn đều lấy một chút
sữa trộn vào, thêm nước, nhồi thành bánh úp rộng hơn nơi chỗ đau, lúc bánh c̣n
nóng nhưng phải lót giấy mỏng hoặc lụa trên mụn, chưa ung mủ sẽ tan đi, nếu có
mủ sẽ vỡ, trong lúc đó nấu cháo Hoàng kỳ ăn lại càng hay (Hải Thượng Tập Nghiệm
Phương).
+ Trị ung
thư bị bít tắc không mở miệng: Cam thảo sống 8,5g sắc uống với nước giếng có thể
sơ thông được chất độc xuống dưới (Trực Chỉ Phương).
+ Trị vú mới
phát sưng: Chích thảo 8g, sắc với nước mới múc lên sắc uống, đồng thời phải mượn
người bú vú cho mau nhẹ (Trực Chỉ Phương).
+ Trị đinh
nhọt khi phát sốt: dùng những đốt Cam thảo đă phơi khô, tán bột uống 1-8g với
rượu nóng, uống liên tục th́ đau nóng đều bớt (Ngoại Khoa Tinh Yếu Phương).
+ Trị dưới
âm hộ sinh mụn gọi là Huyền ung, sinh ở trước hoặc sau hậu môn, mới đầu lớn như
hột ngô, lần lần bằng hạt sen, sau 10 ngày sưng đỏ như trái đào vỡ mủ, th́ khi
ấy trị rất khó: Cam thảo loại có vằn chỉ ngang 40g, cắt dài chừng 4 tấc, lấy
nước ở ḷng khe (không dùng nước sông hay giếng) sắc lửa nhỏ, cứ tẩm nước ấy sao
dần dần như thế từ sáng tới trưa rồi lấy ra, cắt ra thấy trong ruột có nước
trong là được, rồi tán bột, dùng 2 chén rượu sắc c̣n 1 chén uống nóng, liên tục
10 ngày là được (Lư Tấn Ung Thư Phương).
+ Trị phỏng
nóng: nước Cam thảo tẩm mật xức vào (Lư Lâu Kỳ Phương).
+ Trị ngộ
độc của thuốc, độc của trùng: Cam thảo tiết, lấy dầu mè tẩm (lâu năm càng tốt)
khi dùng nhai nuốc hoặc sắc uống (Trực Chỉ Phương).
+ Trị ngộ
độc của thuốc, độc của trùng: Dự tri tử, Quán chúng với Cam thảo, trị tất cả các
loại trùng độc (Trực Chỉ Phương).
+ Trị khí
hư, huyết yếu, hồi hộp, mệt ngực, tự ra mồ hôi, mạch Kết Đại: Chích cam thảo
16g, Thục địa 32g, Mạch đông, A giao, Ma nhân, Đảng sâm, Quế chi, mỗi thứ 12g,
Sinh khương 12g, Đại táo 4 trái, sắc uống (Chích Cam Thảo Thang - Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị họng
đau, bụng đau do nhiệt thương tổn tân dịch, tay chân đau nhức co quắp: Cát Cánh
Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị đau
nhức, gân mạch co quắp:Bạch thược,Cam thảo mỗi thứ 12g, sắc uống (Thược Dược Cam
Thảo Thang - (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị trúng
độc nông dược, thực vật, nhọt độc, dương vật lở loét, sưng độc mới phát: Cam
thảo 20g (dùng sống), sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Cam thảo,
Pḥng phong mỗi thứ 40g sắc uống trị trúng độc Thủy măng thảo, Độc đàm. Hoặc kết
hợp với đậu xanh sắc uống trị trúng độc thuốc nông nghiệp (Sổ Tay Lâm Sàng Trung
Dược).
Ngoài ra vị
Cam thảo dùng vào các bài thuốc có thể giảm hoặc làm hoăn giải độc tính hoặc làm
điều ḥa các vị thuốc khác, đồng thời làm cho các vị thuốc không cùng tính chất
được hiệp điều lại với nhau. Như bài “Tứ nghịch thang” (xem: Phụ tử) Cam thảo có
tác dụng Ḥa hoăn tính ấm nóng của phụ tử, Càn khương: Bài: Điều vị thừa khí
thang (Xem: Mang tiêu), trong đó Cam thảo được dùng làm thuốc hoà hoăn sự hạ
mạnh (xổ) của Đại hoàng, Mang tiêu; “Tiểu Sài Hồ Thang” (Xem: Sài hồ) trong đó
Cam thảo làm cho tính hàn của Sài hồ, Hoàng cầm, cùng với tính ấm của Bán hạ,
Đảng sâm được quy về hiệp điều quân b́nh. Vị Cam thảo dùng trong thuốc bổ th́ bổ
ích, dùng trong thuốc mát (lương) th́ tả nhiệt, dùng trong thuốc nhuận th́ dưỡng
âm. V́ thế ngoài thuốc chính để trừ một số bệnh tật ra, thông thường người ta
c̣n dùng nhiều tác dụng để bổ trợ, quân b́nh v.v (Hiện Đại Trung Y Nội Khoa Học).
+ Trị các chứng viêm nhiễm: Ung nhọt
sưng.tấy, họng sưng đau, tuyến vú viêm, phế ung (apxe phổi), chàm lở, miệng 1ở.
. . dùng sinh Cam thảo. Thường phối hợp với các
loại thuốc thanh nhiệt, giải độc như trị
ung nhọt, dùng với Bồ công anh, Kim ngân hoa liên kiíu, trị họng sưng đau, thêm
Cát cánh, Huyền sâm, Ngư tinh thảo, Sơn đậu căn, Xạ can, Ngưu bàng tử.. . (Hiện
Đại Trung Y Nội Khoa Học).
+ Trị bệnh Addisson: Diệp Duy Pháp và cộng
sự dùng: Uống nước sắc Cam thảo, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 3-5ml (có thể dùng
8-10ml, uống 25-40 ngày. Chỉ dùng Cam thảo 33 ca, dùng thêm Cocticoit 16 ca, đều
có kết quả, nhẹ th́ dùng Cam thảo, nặng có thể bớt lượng Cocticoit (, Đại học Y
Khoa Bạch Cầu Ân Học Báo, 1978, 4: 54).
+ Trị loét dạ dày, hành tá tràng: Mỗi lần
uống cao lỏng Cam thảo 15ml, ngày 4 lần,
liền trong 6 tuần, trị 100 ca có kết qủa
tốt 90%, kiểm tra X-quang 58 ca, 22 ca hết ổ loét, 28 ca chuyển biến tốt (Trung
Hoa Nội khoa Tạp Chí 1960, 3: 226).
+ Dùng chế phẩm Cam thảo có 5% kẽm (Zinc),
Dược lư chứng minh có chống loét, dùng trị 247 ca loét, uống ngày 3 lần, mỗi lần
0,25-O,5g, có kết quả trên 90% (Thông Báo Dược Học 1987, 3: 150).
+ Trị lao phổi: Mỗi ngày dùng Cam thảo
sống 18g, sắc c̣n 150ml chia 3 lần uống 30-90 ngày, kết hợp thuốc chống lao trị
55 ca, 23 ca kết quả tốt, 32 ca tiến bộ, không có ca nào xấu đi (Y Dược Giang
Tây 1965, 1: 562).
+ Trị viêm gan: Trị viêm gan B mạn tính,
dùng viên Cam thảo Glyxirisin, trị 330 ca có kết quả 77%, tỷ lệ kháng nguyên E
chuyển âm tính 44,8%. Thực nghiệm chứng minh thuốc làm giảm thoái hóa mỡ và hoại
tử tế bào gan, giảm phản ứng viêm của tổ chức gian bào, tăng tế bào gan tái
sinh, hạn chế sự tăng sinh của tổ chức liên kết, nhờ đó mà giảm tỷ lệ xơ gan
(Thông Báo Trung Dược 1987, 9: 60).
+ Trị rối loạn nhịp tim: Dùng Cam thảo
sống, Chích cam thảo, Trạch tả, mỗi thứ 30g, mỗi ngày l thang, sắc chia sớm tối
2 lần uống. Trường hợp bất thường ra mồ hôi, bầt
rứt mất ngủ, tự cảm thấy nóng lạnh thất
thường, uống truớc bài Quế Chi Gia Long Cốt Mẫu Lệ Thang rồi uống thuốc này. Trị
23 ca loạn nhịp thất đều kết quả tốt, ca uống ít là 3 chén, nhiều là 12 chén th́
hết triệu chứng, điện tâm đồ trở lại b́nh thường (Học Báo Học Viện Trung Y Bắc
Kinh 1983, 2: 24).
+ Trị lưng đau, chân đau: trị 27 ca đau
cấp và mạn tính, dùng Thủy châm huyệt vùng đau 4ml dịch Cam thảo 300%, cách
nhật, 4-7 lần là một liệu tŕnh, đối với bệnh cấp 1 liệu tŕnh, bệnh mạn 2 liệu
tŕnh. Kết quả 20 ca hết đau, vận động tốt, 7 ca giảm hoặc cơ bản hết triệu
chứng (tạp chí Trung Y Triết Giang 1980, 2: 60).
+ Trị cơ cẳng chân run giật: Dùng cao 1ỏng
Cam thảo, người lớn mỗi một lần 10-15ml, ngày 3 lần, trong 3-6 ngày, trị 254 ca,
có kết quả rơ rệt 241 ca, tỷ lệ 94,8% (Ngoại Khoa Trung Hoa Tạp Chí 1960, 4:
354).
+ Trị xuất huyết do giảm tiểu cầu: Mă
Trọng Lân trị 8 ca giảm tiểu cầu nguyên phát, 5 ca mỗi ngày dùng Cam thảo 30g, 3
ca mỗi ngày 15g, sắc chia 3 lần uống, phần lớn
dùng 2-3 tuần. Kết quả tốt 3 ca, có kết quả
4 ca, tiến bộ 1 ca. Toàn bộ bệnh nhân sau khi dùng thuốc 3-4 ngày hết chảy máu,
sau 4-10 ngày, các điểm xuất huyết lặn hết (Trung Hoa Nội khoa Tạp chí 1981, ll: 704).
+ Trị nhiễm độc thức ăn: Cam thảo (sống)
9-15g, sắc nước chia 3-4 lần, uống trong 2 giờ, một số rất ít có sốt, thêm bột
Hoàng liên 1g trộn với nước thuốc uống, trường hợp nhiễm độc nặng dùng Cam thảo
30g sắc cô c̣n 300ml, mỗi 3-4 giờ thụt dạ dày 100ml và rửa dạ dày, truyền dịch
(Cam Thảo Điều Trị 454 Ca Nhiễm Độc Thức Ăn, Hoàng Nhuệ Thương -Tân Trung Y Tạp
Chí 1985, 2: 34).
+ Trị ăn phải độc quả Bồ ḥn 55 ca, ăn độc
quả Lệ chi núi 197 ca, nhiễm độc thịt vịt quay không sạch 204 người, đều có kết
quả tốt (Cam Thảo Điều Trị 454 Ca Nhiễm Độc Thức Ăn, Hoàng Nhuệ Thương -Tân
Trung Y Tạp Chí 1985, 2: 34).
+ Trị đái tháo nhạt: Mỗi lần uống 5g bột
Cam thảo, ngày uống 4 lần, trị 2 ca kết quả rất tốt (Báo Cáo Của Anh Hồng, Tạp
Chí Nội Khoa Trung Hoa 1959, 12: l169).
+ Trị họng viêm mạn: Dùng Cam thảo sống
10g ngâm nước sôi uống như nước trà, hết ngọt bỏ đi, uống liên tục cho đến hết
triệu chứng. Kiêng ăn cá, ớt, đường. Bệnh nhẹ uống 1-2 tháng, nặng uống 3-5
tháng, đă trị 38 ca, khỏi 34 ca, tốt 4 ca (Tống Viễn Trung, Cam Thảo Ẩm Trị Họng
Viêm Mạn, Học Viện Trung Y Vân Nam Học Báo 1983, l: 20).
+ Trị tuyến vú viêm cấp: Dùng Cam thảo
(sống), Xích thược, mỗi thứ 30g, mỗi ngày 1 thang, sắc uống liên tục, uống 1 - 3
thang. Trị 27 ca tuyến vú viêm cấp (chưa làm mủ), kết quả tốt (Thi Vĩnh Phát,
‘Cam Xích Thang’ Trị Tuyến Vú Viêm Cấp, Tạp Chí Y Dược Hồ Nam 1976, 2: 58).
+ Trị tĩnh mạch viêm tắc: Cao lỏng Cam thảo
mỗi ngày 15ml, hoặc Cam thảo 50g (giảm lượng tùy bệnh), sắc phân 3 lần, uống
trước bữa ăn. Đă trị 3 ca có 1 ca do có việc nên tiến bộ phải ra viện c̣n các ca
khác đều khỏi. Các triệu chứng đau, phù và nổi tĩnh mạch tại chỗ đều hết (Trương
Thạch Sanh, Quan Sát Kết Quả Điều Trị Viêm Tắc Tĩnh Mạch Bằng Cam Thảo, Tạp Chí
Ngoại Khoa Trung Hoa 1959, 7: 656).
+ Trị chứng da nứt: Cam thảo 50g ngâm cồn
75% 200ml, sau 24 giờ, bỏ xác, cho Glycerine 200nl, lúc dùng, rửa sạch chỗ nút,
bôi thuốc vào. Đă trị 100 ca, theo dơi 50 ca trong 2 năm không tái pbát 36 ca, 1
năm không tái phát 11 ca, 3 ca không kết quả (Lư Cảnh Dục, Cam Thảo Ngâm Cồn Trị
Da Nứt, Báo Tân Y học 1974, l: 45).
+ Trị bao tủ đau, bao tử loét: Cao Cam thảo
0,03g, bột Cam thảo 0, lg, Natri Bicarbonat 0, 15g, Magiê carbonat 0,2g,
Bitmutnitrate basic 0,5g, bột Đại hoàng O,02g, Tá dược vừa đủ 1 viên. Ngày uống
2-3 lần, mỗi lần 2-4 viên (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị bao tử loét: Cao Cam thảo 2 phần,
nước cất l phần, ḥa tan, ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 th́a nhỏ, không uống lâu
quá 8 tuần lễ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị các chứng mụn nhọt, ngộ độc: Cao Cam
thảo mềm, ngày uống 1-2 th́a nhỏ.
Tham
khảo:
+ Cam thảo
giải được độc của hằng trăm thứ thuốc dễ như dội nước sôi trên tuyết, tức khắc
tuyết tan ra ngay, người trúng độc Ô đầu, Ba đậu th́ Cam thảo vào tớibụng th́
giải được rồi hiệu nghiệm như trở bàn tay, ngày xưa gọi là nước Đại đậu, giải
được độc của bách dược. Đă từng nghiên cứu mà chẳng bao giờ là không có hiệu
nghiệm. Ta khen Cam thảo nên mới làm ra bài ‘Cam Thảo Thang’, bài đó đă được
thực nghiệm, hiệu quả lạ lùng (Thiên Kim phương).
+ Cam thảo
chữa được những chứng lạnh trong bụng, động kinh, bụng đầy, bổ ích ngũ tạng,
chứng nội thương thận khí làm hai dịch hoàn không xẹp xuống được, phụ nữ bị rong
kinh sinh ra đau mỏi lưng, nếu bệnh hư mà nóng nhiều th́ dùng nó nhiều hơn
(Đường Nhân Quyền).
+ Cam thảo
an hồn định phách, bổ được những chứng ngũ lao thất thương và tất cả những chứng
thương tổn, sợ sệt buồn phiền, hay quên, tính nó thông được cửu khiếu, lợi được
trăm mạch, ích tinh, dưỡng khí, làm khỏe mạnh gân xương (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+ Vị đắng
th́ tả, cay th́ tán, chua th́ thu, mặn th́ nhuận xuống mà thu liễm, ngọt th́ đi
lên mà phát ra. Thế mà trong sách bản thảo lại nói Cam thảo hạ được khí là ư làm
sao? Thưa, v́ vị nó ngọt, dễ lọt vào bên trong, nó có thể lên cũng được mà xuống
cũng được, có thể nổi hoặc ch́m đều được, cũng có thể ở trên mà cũng có thể ở
dưới, ở ngoài cũng như có thể ở trong, có thể ḥa, có thể hoăn, có thể bổ mà
cũng có thể tả cũng được. Đó là vị thuốc nói theo lẽ trung dung, nó nhuận theo
sự mềm dẻo, thật là hết chỗ nói vậy. Cho nên Thánh y Trọng Cảnh làm bài “Phụ Tử
Lư Trung Thang” phải có Cam thảo vào v́ sợ Phụ tử vượt thoát lên trên quá, dùng
Cam thảo mục đích là để ḥa hoăn cho vừa lui lại. Bài (Điều Vị Thừa Khí Thang)
cũng phải dùng đến Cam thảo v́ sợ nó hạ quá mạnh, đó là có ư làm cho nó ḥa hoăn
lại (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Cam thảo
dùng sống th́ có tác dụng tả hỏa, thoái nhiệt; dùng chín th́ đánh tan được chứng
biểu hàn. Trị được chứng họng đau, trừ được tà nhiệt, ḥa hoăn được chính khí,
nuôi được âm huyết, bổ Tỳ Vị và nhuận Phế. Lại nói rằng Cam thảo có khí bạc mà
vị hậu có thể lên mà cũng có thể xuống, đó là vị thuốc âm trong dương vậy. V́
dương bất túc th́ bổ nó bằng vị ngọt, chính những vị ngọt, tính ấm đó lại trừ
được đại nhiệt, v́ vậy Cam thảo dùng sống th́ khí b́nh, có thể bổ được Tỳ Vị,
lúc không đủ sức, có thể tả được tâm hỏa, khí hữu dư. Cam thảo nếu dùng chích
th́ khí nó hơi ấm, có thể bổ được nguyên khí của tam tiêu mà lại hay tán được
chứng biểu hàn, trừ được tà nhiệt, cho nên những chứng Tâm hỏa thừa lúc hư ấy nó
vào Tỳ kinh làm ra chứng đau bụng quặn thắt, co quắp lại. Gặp trường hợp này,
nên dùng Cam thảo gấp bội rất hay. V́ chính ra là khí của nó là hay hoăn được
những cái gấp mà lại khéo ủy khúc để ḥa hợp mọi thứ thuốc khác nữa làm cho các
vị khác không c̣n cạnh tranh nhau nên thuốc nóng mà gặp nó th́ giảm nóng, lạnh
mà gặp nó th́ giảm lạnh. Nếu cả nhiệt lẫn hàn lộn xộn th́ nó điều ḥa lại được
(Dụng Dược Pháp Tượng).
+ Cam thảo
dùng sống th́ vào kinh túc Quyết âm, túc Dương minh, thanh được những huyết ô
trọc, tiêu tán được chỗ sưng và giải độc (Bản Thảo Bổ Di).
+ Cam thảo
giải được độc cho trẻ nhỏ, có tác dụng giáng hỏa, giảm đau, h́nh nó bên ngoài
màu đỏ, bên trong vàng, như vậy là màu của nó bao gồm cả quẻ Khôn và quẻ Lỵ vậy.
Vị đạm, khí bạc hoàn toàn là nhờ cái đức của đất mà sinh ra, v́ thế nó có tính
cách ḥa hợp được các loại thuốc. Đó là vị thuốc có công lớn như một vị nguyên
lăo, trị được các thứ lệch lạc, mất quân b́nh của các thứ bệnh, có nghĩa nó cũng
được ví như người được giáo hóa theo đúng đường lối vương đạo rồi đó. Cam thảo
thật là một vị thuốc ví như một ông tướng giỏi cho việc ḥa b́nh (Bản Thảo Cương
Mục).
+ Cam thảo
vị ngọt, tính b́nh, dùng sống th́ mát, dùng chín th́ ấm. Cổ nhân nói tính nó gặp
người có chứng hỏa th́ nó tả đi, cũng do tính hỏa vốn cấp bách, dùng Cam thảo để
mượn nó có vị ngọt để hoăn sức dương hỏa bốc lên. Dùng Cam thảo sống th́ tính nó
mát, nó tả được tính làm hại do hay đốt cháy (Bản Thảo Cầu Chân).
+ Cam thảo
mùa xuân mới thấy mầm non, sang hè c̣n nhiều lá, mùa thu có hoa, mùa đông có
quả. V́ vậy trong một năm bốn mùa dù khí hậu có thay đổi màu nó vẫn màu vàng, vị
ngọt,đó là nó hợp với đức của Thổ, ḥa với mọi khí, cho nên không có chỗ nào là
nó không đến được, không có tà nào mà không đuổi được. V́ thế có người bảo nó
làm chủ cho lục phủ ngũ tạng để nó đuổi hết những chứng hàn, nhiệt, tà khí ra
ngoài. V́ đất là mẹ sinh ra vạn vật, mọi vật xinh đẹp hay xấu xí th́ chẳng có ǵ
là không từ đất sinh ra, rồi lúc tàn rụi không có ǵ là không trở về với đất,
bởi vậy ư nghĩa sinh hóa đă sinh đó là khí hóa. Do đó mà nói rằng Cam thảo giải
được cả trăm thứ độc dược là v́ lẽ ấy. Nó an ḥa được 72 loại khoáng vật, giải
được 1200 loại độc dược của thảo mộc. Ôi! Cái khí của con người cũng như cái khí
của loài vật, không khác ǵ hoa quả, nếu khí ấy thuận ḥa th́ tốt tươi xinh đẹp,
nếu chẳng may gặp phải khí nóng gay go th́ sẽ sinh ra xấu xa, cằn cỗi, nóng nảy
ấy thành ḥa thuận để các kinh mạch ấy lưu thông, khí huyết lưu lợi tự nhiên, cơ
nhục nở nang, gân xương rắn chắc, sức lực dồi dào, gấp bội hơn trước phải làm
thế nào? Xin thưa chỉ có tính chất ngọt ngào ḥa hoăn của vị Cam thảo, v́ Cam
thảo có vị ngọt, tính ấm và mát của nó đă trọn vẹn đầy đủ th́ mới có thể dễ
thành công được, v́ tính ḥa hoăn, nó đă đầy đủ th́ làm cho người ta cũng đầy
đủ. Khí trong người nóng nảy sinh hóa ra nhiều điều phức tạp phải lo, nên làm
thế nào để điều ḥa quân b́nh cho ổn định, nếu c̣n có điều chi trở ngại là điều
chẳng đặng đừng. Một bằng chứng cụ thể là đem những sách bàn luận về chứng
thương hàn th́ ‘Kim Quỹ Yếu Lược’ gồm 250 phương mà những phương có Cam thảo đă
là 120 phương rồi. Nhưng đó cũng không phải là Cam thảo làm chủ được bệnh đâu,
nhưng mà mỗi phương phải hợp với nó mới có sự điều ḥa được, v́ Cam thảo có tác
dụng hiệp điều, làm cho ḥa hoăn để cho hợp với bệnh t́nh mà thôi (Dược Tính
Luận).
+ Cam thảo
cũng có thể bổ mà cũng có thể tả, có thể trị những chứng ở biểu mà cũng có thể
trị những chứng ở lư, lại có tác dụng đi lên mà cũng có tác dụng đi xuống. Dùng
sống th́ tính b́nh, bổ được tỳ vị bất túc, tả được chứng tâm hỏa hữu dư. Dùng
chín th́ khí ấm, bổ được nguyên khí của tam tiêu, tán được biểu tà. Hoà vào
thuốc ḥa th́ có tác dụng bổ ích, cho vào thuốc phát hăn th́ giải được cơ biểu,
cho nó vào thuốc mát th́ giải được nhiệt tà, cho vào thuốc bổ th́ ḥa hoăn được
chính khí, cho vào thuốc nhuận th́ nuôi dưỡng được âm huyết. Nó có tác dụng làm
cho sinh cơ nhục, khỏi đau nhức, thông được 12 kinh mạch, giải được độc của hàng
trăm loại thuốc, v́ vậy người ta đề cao vị này mới gán cho cái tên là Quốc Lăo.
Nhưng nếu có những chứng bụng đầy th́ nên kiêng cử không dùng. Khi dùng nên chọn
loại to mà chắc, màu vàng là thứ tốt, nếu muốn có tác dụng bổ trung th́ sao lên
để dùng, nếu muốn thuốc có tác dụng tả hỏa th́ dùng sống (Bản Thảo Bị Yếu).
+ Những vật
mà có vị ngọt, hay hơn cả là vị Cam thảo, nó vốn là một vị thuốc chủ cho Tỳ kinh
mà Tỳ là căn bản cho hậu thiên, lục phủ ngũ tạng đều phải chịu nhờ vào khí của
Tỳ cả. V́ tạng phủ là căn bản của khí, tức là chính khí, c̣n cái khí hàn nhiệt
do ở ngoài mà đến th́ đó gọi là tà khí, hễ chính khí vượng th́ tà khí tự nhiên
phải lui. Vả lại gân thuộc can làm chủ, mà xương thuộc Thận làm chủ, c̣n cơ nhục
thuộc Tỳ làm chủ, khí thuộc Phế làm chủ, c̣n sức lực của con người th́ thuộc Tâm
làm chủ. Nhưng một khi đă làm cho tỳ khí mạnh lên rồi th́ tự nhiên ngũ tạng cũng
đều nhờ vào đó mà luân chuyển để nhờ cậy nhau thêm. Như vậy, khi Tỳ đă mạnh th́
chẳng những được bền vững mà ngày càng bền vững hơn (Thần Nông Bản Thảo Kinh
Độc).
+ Cam thảo
vị ngọt, tính trung ḥa, có tác dụng điều bổ, v́ vậy, dùng với thuốc có độc th́
nó có tác dụng giải độc; Dùng với thuốc có tác dụng mạnh th́ nó làm cho thuốc
ḥa hoăn; Thuốc giải biểu nếu thêm Cam thảo sẽ tăng thêm tác dụng; Thuốc hạ có
thêm Cam thảo th́ tác dụng ḥa hoăn. Cam thảo tăng thêm tác dụng bổ khí của Sâm,
Kỳ, giúp Thục địa trị chứng âm hư nguy kịch. Thuốc trừ nhiệt tà, kiện cân cốt,
kiện tỳ vị, trưởng cơ nhục, theo thuốc khí vào phần khí, theo thuốc huyết vào
phần huyết, không nơi nào mà không đến được, v́ vậy, nó được gọi là Quốc Lă
(Cảnh Nhạc Toàn Thư).
+ Cam thảo
là một vị thuốc chữa được chứng buồn phiền, có tác dụng nhuận Phế, tiêu hóa được
đờm dăi, ngoài công dụng đó ra c̣n có tác dụng ḥa hợp được các loại thuốc, lại
thêm có tác dụng làm dễ uống thuốc, nó lại c̣n có công việc dính các vị thuốc
khác làm viên thuốc tṛn dễ dàng (Đinh Phúc Bảo).
+ Cam thảo
rất ngọt, tác dụng chủ yếu là bổ Tỳ thổ, làm khoan khoái dễ chịu, xưa nay sách
vở đều ca ngợi Cam thảo (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Cam thảo
v́ có vị ngọt mà đặt tên, trong các vị thuốc lấy nó làm quân, trị 72 loại độc
của Nhũ thạch (khoáng chất), giải 1200 loại độc của cây cỏ, nó có công năng điều
ḥa các vị thuốc nên mới đặt cho tên là Quốc lăo (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển).
+ Cam thảo
là vị thuốc bổ như Sâm, Kỳ, chỉ là một vị thuốc ḥa b́nh, chuyên chủ về Tỳ Vị,
cho nên thuốc bổ, thuốc tiêu, thuốc hạ, phát tán, chữa về lối ǵ cũng đều dùng
nó, trừ những bệnh ở phía dưới th́ ít dùng v́ sợ làm chậm các chất khác (Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Sau khi
sao với mật gọi là Chích Cam thảo có vị ngọt ấm, ích khí, có thể trị chứng tâm
dương hư, tỳ khí hư (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Dùng Cam
thảo thời gian lâu sẽ sinh ra tác dụng phụ như phù thủng, huyết áp cao (Tân
Biên Trung Y Học Khái Luận).
+ Cam thảo
trong mầu vàng, ngoài mầu đỏ, đầy đủ màu sắc của quẻ “Khôn”, quẻ “Lỵ”, v́ có vị
ngọt, tính b́nh, nhờ công của “Mậu Kỷ” (Thổ) nên điều ḥa được các vị thuốc, v́
thế nên có các tên danh dự là Quốc Lăo. Trị được trăm thứ tà, có tác dụng vương
đạo. Vị ngọt ở trung ương mà kiêm cả ngũ hành, trên dưới trong ngoài đều dùng
được cả, ḥa hoăn, bổ tả đều có hết, bổ âm trừ nhiệt, lại giúp đỡ phế kim cho
nên trị cả đau họng, ho đàm, phế nuy. Vị ngọt, tính trung hoà, chuyên tư nhuận
thồ cho nên chữa chứng tả lỵ, hư nhiệt ở da thịt phải cần đến nó (Dược Phẩm
Vậng Yếu).
+ Trời đất
sinh ra độc, nhưng lại sinh ra các thứ khác để hóa giải, các loại độc gặp thổ
th́ hóa, mà Cam thảo là thổ tinh có màu vàng tính như đất, v́ vậy có thể hóa
được độc, giải được tất cả các tà khí. Bổ trợ thêm Hoàng kỳ, Pḥng phong có thể
đuổi được độc chạy ra biểu phận, thí dụ như sởi đậu mà khí huyết đều hư th́
trước sau đều nhờ đến nó (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Cam thảo
cùng với Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Đại táo, Đương quy thân, Mạch môn đông,
gia Thăng ma, Sài hồ làm bổ trung ích khí: chuyên chữa bệnh nội thương, khi đói
khi no thất thường sinh ra trọc khí hạ lăm làm phát sốt, kết hợp với Nhân sâm,
Càn khương, Nhục quế th́ có tác dụng ôn trung (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Hạ khí
dùng Cam thảo, Mạch môn đông, Tô tử, Tỳ bà diệp (Trung Dược Học).
+ Giải nhiệt
độc ở dưới dùng Cam thảo, Hoàng liên, Thược dược, Thăng ma, Hoạt thạch (Trung
Dược Học).
+ Thanh lợi
yết hầu do hư nhiệt dùng Cam thảo, Cát cánh, Huyền sâm, Qua lâu căn, Thử niêm tử
(Trung Dược Học).
+ Hay quên
dùng Cam thảo, Nhân sâm, Bồ hoàng, Ích trí nhân, Long nhăn nhục, Viễn chí (Trung
Dược Học).
+ Trừ buồn
phiền táo khát, nhức đầu, phiền muộn: Cam thảo, Mạch môn đông, Thạch cao, Trúc
diệp, Tri mẫu (Trung Dược Học).
+ Trị các
chứng đinh nhọt sưng đau: Cam thảo, Tử hoa địa đinh, Kim ngân hoa, Cam cúc, Hạ
khô thảo, Ích mẫu thảo, Bối mẫu, Bạch cập, Bạch chỉ (Trung Dược Học).
+ Tả hỏa hữu
dư ở Tâm kinh: Cam thảo, Hoàng liên, Mộc thông, Xích thược dược, Sinh địa hoàng
(Trung Dược Học).
Phân
biệt:
+ Cam thảo
hiện nay ở Trung Quốc vẫn là cây mọc hoang ở nhiều nơi, có rất nhiều loài, vất
đề này cần phải nghiên cứu thêm. Người ta thường cho rằng Cam thảo ở Nội Mông có
phẩm chất tốt nhất, rồi đến Cam thảo Thiểm Tây, Sơn Tây, Cam thảo sản xuất ở Hà
Bắc và Đông bắc cũng có phẩm chất tốt. Các loại Cam thảo được dùng để làm thuốc
ở Trung Quốc ngoài cây Glycyrrhiza uralensis Fish Ra, Tân cương cũng c̣n có một
loại Cam thảo gọi là Âu cam thảo (Glycyrrhiza Glabra Lin, Var Glandulifera
Regeletherder) đó là cây sống lâu năm, thân có thể cao 1-1,2m. Toàn thân có lông
rất nhỏ, lá kép lông chim lẻ, lá ché thuôn dài, hoa ngắn, dài chừng 8-12mm,
tràng hoa h́nh bướm. Quả loại đậu, thẳng hoặc hơi cong. Lá của loài Cam thảo này
phần lớn là h́nh bầu dục hay h́nh trứng, dẹt, tṛn dài, lá nhỏ hơn loài trên,
hoa ngắn hơn, quả bổ đôi thẳng hay hơi cong, mặt hơi nhẵn hay có lông ngắn,
nhưng lông không phải lông gai, số hạt trong quả thường ít hơn số hạt của loài
trên. Thời kỳ ra hoa từ tháng 7-9.
+ Nhân dân
c̣n dùng rễ và lá cây Cam thảo đây c̣n gọi là dây Cườm cườm, dây Chu chi, người
Giarai gọi roh djas hre hay Tương tư thảo (abrus precatorius Linn) là thứ dây
leo dài, có cành mảnh. Lá kép lông chim chẵn, có cuống ngắn, dài 15-25cm mang
8-15 đôi lá chét thuôn, bầu dục, cụt đầu và có mũi nhọn ngắn đỉnh có mũ lồi. Hoa
màu vàng, xếp thành chùm nhỏ ở nách hoặc ở ngọn cành. Quả thuôn, hơi có lông,
xoắn lại, có những vách thô sơ trong khoảng cách của các hạt 3-7 hạt dạng trứng,
to bằng hạt đậu Hà lan, có vỏ cứng màu đỏ chói, gần quanh rốn có 1 điềm ṿng
đen. Ra hoa mùa thu và có quả vào mùa đông. Cây mọc hoang ở đồi núi, bờ bụi, có
trồng ở vườn, bờ rào. Rễ có vị ngọt của Cam thảo bắc, thường được dùng thay Cam
thảo nhưng kém ngọt, mùi không thơm và vị đắng. Lá cũng có chất ngọt. Người ta
thường dùng cả rễ, dây,lá, hạt để làm thuốc. Thường thu hoạch vào mùa thu đông,
tốt nhất là lúc cây mới ra hoa. Thường dùng tươi, phơi hay sấy khô, có thể dùng
sống hay sao tẩm mật để có tác dụng điều ḥa vị thuốc khác như Cam thảo bắc,
chữa ho, giải cảm. Hạt dùng ngoài đâm nát đắp lên trị sưng vú do tắc tia sữa,
sát trùng, tiêu viêm, mụn nhọt chóng ra mủ. Cây sở dĩ có tên (dây Cườm cườm) là
v́ hạt có khi làm ṿng đeo hay làm tràng hạt.
+ Nhân dân
c̣n dùng cây Cam thảo nam, c̣n gọi là Cam thảo đất, Thổ cam thảo, Dă cam thảo
(Scoparia Dulcis Linn) thuộc họ Scrophulariaceae, đó là cây Thảo rắn, nhẵn, mọc
đứng, phân nhánh, cao 0,3-1m. Thân có góc. Cành mọc đứng hay trải ra. Lá mọc
ṿng 3 cái một hay mọc đối, h́nh mũi mác nhọn hẹp dần ở gốc, hơi khía răng, tù.
Hoa trắng mục ở kẻ lá. Cuống hoa h́nh sợi tóc, trải ra. Tràng có ống ngắn, h́nh
bánh xe, họng rất nhiều lông, 4 thùy gần bằng nhau, tù, đường kính khoảng 5mm.
Nhị 4, bao phấn có ô tách nhau, song song hay rẽ đôi, Quả nang h́nh cầu, chỉ hơi
vượt qua đài, chẻ vách, mảnh vỏ nguyên nhiều hạt nhỏ, có góc, nhăn nheo. Mọc
hoang. Thường dùng toàn cây, trừ rễ, tươi hay phơi sấy khô, thu hái quanh năm.
Cam thảo đất có vị ngọt, đắng, tính mát. Có tác dụng bổ Tỳ, nhuận Phế, thanh
nhiệt, giải khát, giải độc. Dùng khô từ 12-20g, tươi: 40g, sắc uống để chữa sốt,
say sắn độc, giải độc, cơ thể, viêm họng, kinh nguyệt nhiều.
+ Ở miền nam
(tỉnh Đồng Nai) có một cây nhân dân gọi là Cam thảo, dùng vỏ thân và vỏ rễ để
làm thuốc bổ, cây này thuộc chi Albizzia họ Mimisaceae, có một số đặc điểm như
cây Bồ kết tây (Albizzia lebbek Benth): Cây cao, lá kép 2 lần lông chim, quả dẹt
và mỏng gần như tờ giấy. Phần dược liệu được mô tả như sau: Vỏ thân h́nh ḷng
máng, mặt ngoài màu nâu có khoang màu xám hoặc vàng xám, có lỗ vỏ nhỏ nằm ngang
sần sùi, mặt trong có nhiều sợi vỏ màu vàng nhạt. Vị ngọt gần như Cam thảo sau
hơi tê. Trong lúc đó, rễ Cam thảo bắc h́nh trụ tṛn không phân nhánh, thẳng, dài
khoảng 30cm, đường kính 0,8-2cm, mặt ngoài màu nâu đất hay đỏ nâu, có nhiều nếp
nhăn dọc và lỗ vỏ nằm ngang lồi lên, lưu thưa có vết của rễ con. Mặt bẻ có sợi.
Mặt cắt ngang màu vàng nhạt để lộ lớp bần mỏng, tầng sinh gỗ và tủy tỏa tṛn.
Mùi đặc biệt, vị ngọt dịu.
+ C̣n những
loài Cam thảo giống như những loại Cam thảo mô tả trên nhưng không thể dùng thay
cho Cam thảo mô tả trên, nhưng không thể dùng thay cho Cam thảo bắc được: - Cây
khổ Cam thảo cùng họ trên, giống như Cam thảo nói chung, theo giám định th́ nó
có vị đắng, vỏ xốp, rất rễ bị bong xước, thịt mà vàng xám tro- Cây thổ Cam thảo
(Glycyrhiza palladifora Maxim) c̣n gọi là Cam thảo đất hay Cam thảo chó, cùng họ
trên, rễ cũng giống như rễ Cam thảo, nhưng vỏ vàng hơi bóng, mặt cắt ngang có
nhiều xơ. Có nhiều ở tỉnh Liêu Ninh. Cây Cam thảo quả có gai (Glycyrrhiza
palladiflora Max) h́nh thái th́ cũng giống như cây Cam thảo nhưng thân, cành có
cạnh, có rănh dọc rất rơ, hoa mọc thành bông, nhưng chỉ dài 1,5-6cm quả bế đôi,
thằng, có gai thưa, rễ không có vị ngọt, không thể dùng làm Cam thảo - Cam thảo
Vân Nam (Glycyrrhiza yunnanensis S. Scgeng et Ik Tai) có ở Vân Nam, trên cơ bản
th́ giống như Cam thảo chỉ có khác là hoa và quả xếp chặt trông như giống quả
cầu. Cây Cam thảo dại (Abrus cantoniensis Hance) là những cây không thể thế cho
cây Cam thảo bắc được (Danh Từ Dược Học Đông Y).
| | |