ĐỖ TRỌNG

Xuất xứ:
Bản Kinh.
Tên Hán Việt khác:
Tư trọng (Biệt Lục), Tư tiên (Bản Kinh), Mộc miên
(Ngô Phổ Bản Thảo), Miên, Miên hoa, Ngọc ti b́, Loạn ngân ty, Qủy tiên mộc (Ḥa
Hán Dược Khảo), Hậu đỗ trọng, Diêm thủy sao, Đỗ trọng, Xuyên Đỗ trọng, Miên đỗ
trọng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tên khoa học:
Eucommia ulmoides Oliv.
Họ khoa học:
Thuộc họ Đỗ Trọng (Eucommiaceae).
Mô tả:
Đỗ trọng là thân cây gỗ sống lâu năm, hàng năm rụng lá. Cây' cao . từ 15 - 20m,
đường kính độ 33 - 50cm, cành mọc chếch, tán cây h́nh tṛn. Vỏ cây màu xám. Lá
mọc cách, h́nh tṛn trứng, phía cuống h́nh bầu dục hay
h́nh thùy, đuôi lá nhọn, lá xanh có răng cưa; mặt lá nhắn bóng, màu xanh đậm,
bóng láng, mặt trái lá non có lông tơ, lúc ǵa th́ nhẵn
bóng không c̣n lông, có vân vằn, cuống lá có rănh, không có lá bắc. Cây đực và
cây cái khác nhau rơ ràng, hoa thường ra trước lá hay hoa và lá cùng ra một lúc
với hoa, hoa đực có cuống, mọc thành chùm, dùng để làm làm thuốc, hoa cái do hai
nhi cái hợp thành, một tâm b́, đầu quả nứt đôi. Quả có cánh mỏng dẹt, ở giữa
hơi lồi, trong có một hạt. Hạt dẹt, hai đầu tṛn, có thể dùng làm giống. Rễ và
vỏ cây có chất keo màu trắng bạc như tơ, bé găy lá và vỏ cây thấy có những sợi
nhựa.
Địa lư:
Trung Quốc có trồng nhiều. Đỗ trọng đă di thực
vào trồng ở Việt Nam, nhưng chưa phát triển.
Thu hái, sơ chế:
Sau khi cây trồng được 10 năm, th́ chọn những cây
to mập để thu hoạch trước.
Vào tháng 4
- 5 hàng năm, lấy cưa cưa đứt chung quanh vỏ cây thành những đoạn dài ngắn tùy
ư, rồi dùng dao rạch dọc thân cây thành từng miếng để bóc vỏ cho dễ. Để cho cây
không bị chết mà vẫn giữ nguyên t́nh trạng của rừng cây,
khi bóc vỏ chỉ bóc 1/3 vỏ ở chung quanh cây, đề giữ cho cây tiếp tục sinh trưởng
sau mấy năm vỏ ở chỗ bóc đó đă liền lại như cũ, lúc đó lại có thể tiếp tục bóc.
Vỏ bóc về đem luộc nước sôi rồi trải ở chỗ bằng phẳng dưới có lót rơm, bên trên
nén chặt làm cho vỏ phẳng, chung quanh lấy rơm phủ kín để ủ cho nhựa chảy ra.
Sau đó độ một tuần, lấy ra một miếng để kiểm tra, nếu thấy vỏ có màu tím, th́ có
thể dỡ ra đem phơi, cạo thật sạch lớp vỏ bên ngoài, làm cho vỏ thật nhẵn bóng,
cuối cùng cắt thành từng miếng ư muốn.
Phần dùng làm thuốc:
Vỏ (Cortex Eucommiae).
Mô tả dược liệu:
Vỏ cây dày, ít sù ś, sắc nâu đen, bẻ ra
thấy nhiều tơ trắng, dai, óng ánh là tốt.
Phân biệt
với Đỗ trọng nam.
+ Bắc
đỗ trọng: Vỏ dẹt, phẳng, dày 0,1 - 0,4cm, dài rộng khác nhau. Mặt ngoài
màu nâu vàng đến nâu xám, có nhiều nếp nhăn dọc, có các lỗ
vỏ nằm ngang và vết tích của cành cây. Mặt trong nhẵn, nâu tím, hơi mờ. Chất
gịn, dễ bé găy, mặt bẻ có nhiều sợi nhựa trắng đàn hồi. Mùi hơi thơm, vị hơi
đắng.
+ Nam
đỗ trọng: Vỏ cuộn h́nh ḷng máng, dày l 0,2 - 0,4cm. Mặt ngoài màu vàng
sáng có những khoang màu vàng nâu, có nhiều đường nứt dọc. Mặt trong nhẵn, màu
nâu, chất cứng, khó bẻ, mặt bẻ có ít nhựa đắng, đàn hồi kém, không mùi, hơi
thơm, vị nhạt, hơi chát.
Phẩm
chất, quy cách: Do vị Đỗ trọng phân bố rộng răi khắp nơi ở Trung Quốc cho
nên mỗi nơi một khác.
+ Đỗ trọng
sản xuất ở Đại ba (Tứ Xuyên) mặt vỏ mịn, dày thịt.
+ Đỗ trọng ở
dẫy núi Lầu sơn (Quư Châu) th́ mặt vỏ thô mịn khác nhau, phẩm chất không tốt
bằng Tứ Xuyên.
+ C̣n Đỗ
trọng ở Thiểm Tây, Hồ Bắc th́ vỏ thô, xù x́, mỏng thịt, chất lượng kém hơn cả.
Các qui cách
chính gồm có:
Đỗ trọng dày
thịt: Những miếng vỏ khô dày thịt, to, mặt sau có màu đen tím, bẻ găy có những
sợi như sợi bông màu trắng, không bi sâu bệnh hại và trầy sát là tốt nhất. Trong
đó chia làm 3 loại theo thứ tự tốt xấu:
(1) Khô kiệt, cạo hết lớp vỏ khô ở mặt
vỏ, hai mặt cắt đều dày 8,3mm, dài 20 - 93cm, rộng 53cm.
(2) Khô
kiệt, cạo hết lớp vỏ khô bên ngoài, mặt cắt chếch hai đầu dày 3 - 8,3mm, dài 20
- 93cm, rộng 40cm.
(3) Cạo hết
lớp vỏ khô chết ở ngoài, dày 3-5mm, dài 20 - 60cm, rộng 17 - 40cm.
2 - Đỗ trọng
miếng nhỏ: Những miếng nhỏ dày trên 3mm.
3 - Đỗ trọng
mỏng thịt: Mặt vỏ mịn như vỏ quế, mặt sau màu đen tím, bẻ
gẫy có sợi như sợi bông màu trắng. Trong đó phân làm 3 loại:
. Khô kiệt,
cạo hết vỏ ngoài, hai đầu cắt thẳng, dài 17 - 93cm, rộng 17 - 40cm.
. Khô kiệt,
cạo hết vỏ mặt thô mịn khác nhau, cắt vuông góc có độ dày khoảng 3mm, dài
20-93cm, rộng 17 - 40cm.
4- Loại
ngoại lệ: Gồm những miếng dài, miếng vụn nhỏ, miếng cuốn cong, miếng rách.
Bào chế:
1- Gọt bỏ vỏ
dày bên ngoài, mỗi cân dùng chừng 120g mật ong và 40g sữa tô, ḥa đều, tẩm kỹ
rồi sao cho
thật khô là được (Lôi Công Bào Chích Luận).
2 - Gọt bỏ
vỏ dày ngoài rồi xắt miếng nhỏ, tẩm nước muối sao cho đứt tơ là được (Bản Thảo
Cương Mục).
3 - Tẩm với
rượu 40o trong 2 giờ sao vàng cho tới khi đứt tơ là được (Trung Dược Học).
4 - Rửa sạch, cạo bỏ vỏ thô ở ngoài,
cắt từng lát nhỏ 3-5kg, đeo nhau, tơ không thể cắt được, như da rắn, phơi khô sẽ
xấu, để vậy dùng sống hoặc ngâm rượu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Bảo quản:
Để nơi khô ráo, không để nơi ẩm ướt dễ bị biến chất, nếu thấy mốc mọt phải đem
phơi ngay.
Thành
Phần Hóa Học:
+ Gutta –
Percha, Alcaloids, Glycoside, Potassium, Vitamin C (Trung Dược Học).
+ Trong Đỗ
trọng có Syringaresinol, Pinoresinol, Epipinoresinol, 1- Hydroxypinoresinol,
Erythro-Dihydroxydehydrodiconiferyl Alcohol, Medioresinol (Deyama Y và cộng sự –
Chem Pharm Bull,1987, 35 (5): 1785).
+ Ulmoprenol
(Horii Z và cộng sự – Tetraheldron Lettér 1978, (50): 5015).
+ Vanilic
acid, Ursolic acid, Sitosterol, Daucosterol (Lư Đông – Thực Vật Học Báo 1986, 28
(5): 528).
+ Augoside,
Harpagide acetate, Reptóide Bianco A và cộng sự – Tetrahedron 1974, 30: 4117).
Tác Dụng
Dược Lư:
+ Tác dụng hạ áp: Sắc nước và cồn chiết
xuất thuốc đều có tác dụng hạ áp, nước sắc tác dụng mạnh hơn, nước sắc Đỗ trọng
sao tốt hơn nước sắc Đỗ trọng sống. Cơ chế tác dụng chủ yếu do thuốc trực tiếp
làm thư gĩan cơ trơn của mạch máu (Trung Dược Học) nhưng
tác dụng hạ áp thời gian ngắn (Trung
Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
+
Thuốc có tác dụng hạ Cholesterot huyết thanh, dăn mạch, tăng lưu lượng máu của
động mạch vành (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
+ Có tác dụng kháng viêm, tăng cường chức
năng vỏ tuyến thượng thận (Trung Dược Học).
+ Thuốc có tác dụng chống co giật và giảm
đau (Trung Dược Học).
+ Thuốc làm tăng tính miễn dịch của cơ thể.
Thực nghiệâm chứng minh thuốc có tác dụng điều chỉnh chức năng của tế bào. Lá,
cành, vỏ tái sinh của Đỗ trọng đều có tác dụng như nhau (Trung Dược Học).
+ Tác dụng đối với tử cung: nước sắc và cồn
chiết xuất Đỗ trọng có tác dụng hưng phấn tử cung tử
cung cô lập của thỏ và chuột lớn, làm cho tử cung cô lập của mèo th́ tác dụng
hưng phấn lại rất nhẹ (Trung Dược Học).
+ Thuốc có tác dụng rút ngắn thời gian chảy
máu và tác dụng lợi tiểu (Trung Dược Học).
+ Thuốc sắc có tác dụng ức chế với mức độ
khác nhau đối với tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn lỵ
Flexner, trực khuẩn Coli, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn bạch hầu, phế cầu
khuẩn, liên cầu khuẩn dung huyết B (Trung Dược Học).
Tính vị:
+ Vị cay,
tính b́nh (Bản Kinh).
+ Vị ngọt, tính ôn, không độc (Biệt
Lục).
+ Vị đắng
(Dược Tính Bản Thảo).
+ Vị ngọt,
hơi cay, tính ấm (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Quy kinh:
+ Vào kinh
Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
+ Vào kinh
thủ Thái âm Phế (Bản Thảo Kinh Giải).
+ Vào kinh
Can và Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tác dụng:
+ Bổ trung, ích tinh khí, kiện cân cốt,
cường chí (Bản Kinh).
+ Nhuận can táo, bổ can hư (Bản Thảo Bị
Yếu).
+ Bổ can, thận, cường cân
cốt, an thai (Trung Dược Học).
+ Ôn thận,
tráng dương, mạnh gân cốt, an thai (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Chủ trị:
+ Trị âm nang ngứa chảy nước, tiểu gắt,
lưng đau (Bản Kinh).
+ Trị chân đau nhức không muốn bước (Biệt
Lục).
+ Trị lưng gối đau nhức, vùng b́u dái lở
ngứa, âm hộâ ngứa, tiểu són, có thai bị rong huyết, trụy thai (Bản Thảo Bị Yếu).
+ Trị chứng thận hư, lưng đau,
liệt dương, thai động, thai lậu, trụy thai (Trung Dược
Học).
+ Trị cột
sống đau nhức, thắt lưng đau, đầu gối mỏi, thai động, rong kinh, đầu đau, chóng
mặt do thận hư (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Liều
lượng: 8-12g, có thể dùng đến 40g.
Kiêng kỵ:
+ Ghét Huyền
sâm, Xà thoái (Bản Thảo Kinh Giải).
+ Không phải
Can Thận hư hoặc âm hư hỏa vượng: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Âm hư có
nhiệt: dùng thận trọng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Đơn thuốc
kinh nghiệm:
+ Trị mồ hôi
trộm sau khi bị bệnh, chảy nước mắt sống: Đỗ trọng, Mẫu lệ, 2 vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần
uống 20g với nước lúc ngủ (Trửu Hậu phương).
+ Trị phong
lạnh làm thương tổn thận, gây đau thắt lưng, đau cột sống do hư: Đỗ trọng 640g,
xắt, sao với 2 thăng rượu, ngâm trong 10 ngày, ngày uống 3 lần (Thế Y Đắc Hiệu
Phương).
+ Trị có
thai 2 – 3 tháng mà bị động thai, ngang lưng đau như sáp sẩy
thai: Đỗ trọng (tẩm nước Gừng, sao cho đứt tơ), Xuyên tục đoạn (tẩm rượu).
Tán bột. Dùng nhục Táo nẫu kỹ lấy nước trộn thuốc bột làm thành viên, uống với
nước cơm (Đỗ Trọng Hoàn – Chứng Trị Chủan Thằng).
+ Trị thắt
lưng đau do thận hư: Đỗ trọng bỏ vỏ, sao vàng với sữa tô 1 cân, chia làm 10
thang,
mỗi đêm lấy
1 thang ngâm với 1 thăng nước cho tới canh năm, sắc c̣n 3
phần, giảm c̣n 1, lấy nước, bỏ bă, rồi lấy 3 - 4 cái thận dê, xắt lát bỏ vào sắc
tiếp, bỏ tiêu muối vào như nấu canh uống lúc đói (Hải Thượng Phương).
+Trị lưng đau do thận hư: dùng phối hợp với
các vị thuốc bổ thận khác:
. Nếu thận dương hư, dùng Thục địa 26g,
Hoài sơn 16g, Sơn thù 10g, Câu kỷ tử 12g, Đỗ trọng 16g, Thỏ ty tử 12g, Phụ tử
6g, Nhục quế 8g, Đương quy 12g, Lộc giác giao 10g, sắc uống hoặc dùng mật chế
làm hoàn (Hữu Quy Hoàn - Cảnh Nhạc Toàn Thư).
. Nếu thận âm hư: dùng: Sinh địa 16g, Hoài
sơn 12g, Sơn thù 12g, Thỏ ty tử 12g, Câu kỷ tử 16g, Ngưu tất 12g, Đỗ trọng
12g, Cẩu tích 12g, Nhục thung dung 12g, sắc uống hoặc chế với mật làm hoàn (Tả
Quy Hoàn - Cảnh Nhạc Toàn Thư).
+ Trị quen
hư thai, hoặc có thai cứ tới 4 - 5 tháng là hư. Trước có thai 2 tháng, lấy 320g
Đỗ trọng, Lấy gạo nếp sắc lấy nước ngâm Đỗ trọng cho thấm rồi sao cho hết tơ,
dùng 80g Tục đoạn tẩm rượu sấy khô, tán bột, lấy Sơn dược 200-240g, tán bột làm
hồ, rồi viên với các thứ thuốc trên, to bằng hạt Ngô đồng lớn, mỗi lần uống 5-
a0 viên lúc đói (Giản Tiện phương).
+ Trị các
loại bệnh sau khi sinh (sản hậu) hoặc thai không yên: Đỗ trọng bỏ vỏ thô ngoài,
để trên tấm ngói sấy khô, bỏ vào cối gỗ, gĩa nát, nấu Táo nhục cho thật nhừ,
trộn thuốc bột làm viên to bằng hạt Ngô đồng lớn, mỗi lần uống l viên với nước
cơm, ngày 2 lần (Thắng Kim phương).
+ Trị liệt
dương, di tinh do thận hư: Lộc nhung 80g, Đỗ trọng 160g, Ngũ vị tử 40g, Thục đia
320g, Mạch môn đông, Sơn dược, Sơn thù nhục, Thỏ ty tử, Ngưu tất, Câu kỷ tử, mỗi
thứ 160g (Thập Bổ Hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).).
+ Trị lưng
đau do thận hư, tay chân tê mỏi, không có sức: Đỗ trọng, Ngưu tất, Thỏ ty tử,
Nhục thung dung, Hồ lô ba, Bổ cốt chỉ, Đương quy, Tỳ giải, Bạch tật lê, Pḥng
phong, mỗi thứ 2 phần, Nhục quế 1 phần, Thận heo 1 cặp (nấu chín, quết nhuyễn).
Trộn lại, hoàn với mật ong, mỗi lần uống 12g, ngày 2 lần với nước (Ổi Thận Hoàn
- Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị thắt
lưng đau do thận hư kèm phong hàn: Đỗ trọng, Đơn sâm, mỗi thứ 12g, Xuyên khung
6g, Quế tâm 4g, Tế tân 6g. Ngâm rượu, uống (Đỗ Trọng Tửu - Lâm Sàng Thường Dụng
Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị đàn bà
có thai quen dạ đẻ non: Đỗ trọng (sống) 40g, Xuyên tục đoạn 12g, Đại táo 40
trái. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị quen
dạ đẻ non: Đỗ trọng (sao), Tục đoạn, Tang kư sinh, Bạch truật (sao đất sét),
mỗi thứ 20g, A giao châu, Đương quy, mỗi thứ 12g, Thỏ ty tử 4g. Sắc uống (Sổ
Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị huyết
áp cao: Đỗ trọng (sống), Hạ khô thảo mỗi thứ 80g, Đơn b́, Thục địa, mỗi thứ
40g, tán bột làm viên, mỗi lần uống 12g, ngày 2 - 3 lần, với nước (Sổ Tay Lâm
Sàng Trung Dược).
+ Trị huyết
áp cao: Đỗ trọng, Tang kư sinh, mỗi thứ 16g, Mẫu lệ (sống) 20g, Cúc hoa, Câu
kỷ tử, mỗi thứ 12g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị huyết
áp cao: Đỗ trọng, Hoàng cầm, Hạ khô thảo, mỗi thứ 20g. Sắc uống (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị thắt
lưng đau do thận hư, yếu từ thắt lưng xuống chân: Đỗ trọng, Ngưu tất, Câu kỷ tử,
Tục
đoạn, Bạch
giao, Địa hoàng, Ngũ vị tử, Thỏ ty tử, Hoàng bá, Sơn dược (Lâm Sàng Thường Dụng
Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị liệt dương, di tinh: Lộc nhung 80g,
Đỗ trọng 160g, Ngũ vị tử 40g, Thục địa 230g, Mạch môn, Sơn dược, Sơn thù, Thỏ
ty tử, Ngưu tất, Câu kỷ tử, mỗi thứ 18Og, tán bột mịn, trộn với mật làm hoàn,
mỗi lần uống 12g, ngày 2 lần với nước muối nhạt (Thập Bổ
Hoàn - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị phụ nữ có thai dọa sẩy thai, động
thai: Đỗ trọng sống 40g, Xuyên tục đoạn 12g, Sơn dược 20g, Cam thảo 4g, Đại táo
20 quả, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị sẩy thai nhiều
lần: Tục đoạn, Đỗ trọng (sao), Tang kư sinh, Bạch truật (sao), A giao, Đương
quy, mỗi thứ 12g, Thỏ ty tử 4g, sắc nước uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị huyết áp cao: Đỗ trọng (sống), Hạ khô
thảo, mỗi thứ 80g, Đơn b́ Thục địa, mỗi thứ 40g, tán bột
làm hoàn, mỗi lần uống 12g, ngày 2-3 lần (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị huyết áp cao: Đỗ trọng, Tang kư sinh
mỗi thứ 16g, Mẫu lệ sống 20g, Cúc hoa, Câu kỷ tử, mỗi thứ 12g, sắc uống (Sổ
Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị đau dây thần kinh tọa: Đỗ trọng 30g
nấu với thịt thăn heo trong 30 phút, bỏ Đỗ trọng, ăn thịt
heo mỗi ngày 2 lần, liệu tŕnh 7- 10 ngày, tác giả chữa 6 ca kết quả tốt (Học
Báo Y Học Viện Phong Phu 1979, 1: 36)
Tham khảo:
+ Hư nhược
mà ḿnh cứng đơ đó là do phong làm thắt lưng không cử động được, cần phải thêm
Đỗ trọng (Dược Tính Bản Thảo).
+ Đỗ trọng
trị Thận suy làm thắt lưng và cột sống co rút (Nhật Hoa Chư Gia Bản Thảo).
+ Đỗ trọng
nhuận được can táo, bổ can kinh sinh ra chứng hư phong (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Đỗ trọng
có thể làm cho xương cốt dẻùo dai (Dụng Pháp Tượng Luận).
+ Đỗ trọng
vị cay, khí b́nh, không có độc. Sách ‘Biệt Lục’ lại nói là có vị ngọt tính ấm.
Sách ‘Dược Tính Bản Thảo’ lại nói Đỗ trọng vị đắng, tính ấm. Như vậy, vị cay,
ngọt là chính, c̣n
đắng là thứ
yếu và nhiều ấm, mà b́nh th́ ít. Đỗ trọng có khí bạc vị hậu, nhập vào
kinh Túc thiếu âm (Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Hoàng Cung
Tú nói: Thục địa tư bổ Can Thận, đi vào trong tinh tủy của cân cốt; Tục đoạn
điều bổ cân cốt, ở chỗ khí huyết của các đầu khớp gấp; Đỗ trọng bồi bổ Can thận,
đi thẳng vào phần dưới của khí huyết ở cân cốt (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Đỗ trọng
có công năng bổ can, tư thận, v́ can chủ cân, thận chủ cốt, thận đầy đủ th́
xương cốt
mạnh, can
đầy đủ th́ gân khỏe mạnh, co duỗi mạnh đều thuộc ở gân, v́ vậy Đỗ trọng nhập vào
can mà bổ thận, con có thể làm cho mẹ đầy đủ (Tử năng linh mẫu thực) đểø trị can
và thận đều bất túc, là thuốc chính yếu đề trị lưng đau gối mỏi. Bài ‘Thanh Nga
Hoàn’ kết hợp Bổ cốt chỉ, Hồ đào nhục để trị lưng đau do thận
hư, Bài ‘Bảo Dựng Hoàn’ của sách Bị Cấp Thiên Kim Phương dùng Đỗ trọng, Tục
đoạn, Sơn dược. Bài ‘Đỗ Trọng Hoàn’ của sách Chứng Trị Chuẩn Thằng, dùng Đỗ
trọng, Tục đoạn, Táo nhục đều là những phương thuốc an thai. Tuy nhiên, Đỗ trọng
tính của nó trầm mà giáng, mà Tục đoạn cũng thông huyết mạch, nên thận hư làm
cho động thai dùng nó trước tiên là tốt vậy. Nếu do khí hư mà huyết không vững,
mà lại dùng Đỗ trọng sẽ làm cho khí hăm xuống không thăng lên được, gây ra thoát
huyết không cầm. Điều này thầy thuốc không thể không biết được (Trung Dược Học
Giảng Nghĩa).
+ Tuy trên thực nghiệm, thuốc có tác dụng
hạ áp nhưng trên lâm sàng dùng độc vị Đỗ trọng tác dụng thấp (Trung Dược Ứng
Dụng Lâm Sàng).
Phân biệt:
1- Hiện nay ở Việt Nam có nơi dùng vỏ
một cây trong họ Trúc đào, với tên là Đỗ trọng dây hay Đỗ trọng nam hay Nam đỗ
trọng [Parameria laevigata (juss.) Moldenke = Parameria glandurifera Benth. Họ
Apocynaceae. Đó là dây leo dài 5 - IOm, Lá h́nh bầu dục, thuôn hay h́nh trái
xoan ngược, có mũi nhọn dài, nhọn hay tù ở chóp, có góc ở gốc, mặt trên sáng
bóng, có mép hơi cong về phía dưới, dạng màng, thường mọc đối và có khi mọc ṿng
3. Hoa trắng thơm xếp thành xim dạng ngù ở ngọn cây. Quả gồm 2 quả dại, dài 15 -
30cm: rẽ đôi, nhọn nhẵn. Mào lông mềm, trắng, dài 2 - 5cm.
Mùa hoa quả từ tháng 8 đến tháng 4 năm sau. Cây mọc hoang trong rừng và lùm bụi.
Có thể thu hái vỏ quanh năm, đem về xắt nhỏ, phơi khô hay
sao. Cây chứa một chất nhựa như cao su, bẻ ra cũng có nhiều tơ nhưng không dai
và kéo dài và óng ánh như tơ của Đỗ trọng bắc. Kinh nghiệm dân gian thường dùng
để trị huyết áp cao, gây dăn mạch và thay thế cho vị Bắc đỗ trọng, cần nghiên
cứu lại.
2 - Ở miền
Trung, c̣n dùng vỏ một vài cây trong chi Euonymus họ Celastraceae.
3 - Xem
thêm: Đỗ trọng đằng.
4 - Phân
biệt Đỗ trọng với cây Bạch phụ tử c̣n gọi là cây San hô (Jatropha multifida Un.)
thuộc họ Euphorbiaceae là một cây có nhựa mủ. Khi bẻ gẫy cuống lá nhựa mủ khô
lại, thành sợi tơ mành, v́ vậy cũng có người gọi là cây Đỗ
trọng. Cây này chỉ thường được trồng làm cảnh.
|