Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - KINH ĐIỂN


 

Thiên chín: LỤC TIẾT TẠNG TƯỢNG LUẬN

Hoàng Đế hỏi rằng:

Tôi nghe: Trời do cái tiết ‘sáu sáu’ để làm nên một năm; người do cái số ‘chín chín’ để ‘chế hội’; tính ra người cũng ba trăm sáu mươi nhăm tiết, để hợp với trời đất, đă lâu rồi. Nghĩa đó như sao, xin cho biết (1).

Kỳ Bá thưa rằng:

Cái tiết ‘sáu sáu’ và ‘chín chín’ chế hội, là cốt để phân rơ ‘thiên độ’ và ghi rơ ‘khí số’ (2) (2).

Thiên độ cốt là chỉ để đo sự vận hành của nhật nguyệt(3). Khí số cốt để ghi cái công dụng của hóa sinh (3).(4)

Thiên là dương, địa là Âm; nhật là dương, nguyệt là Âm; sự vận hành có phận kỷ, mỗi một chu có đường lối (5). Nhật vận hành được một độ, th́ nguyệt vận hành được mười hai độ, mà c̣n lẻ nữa (6). Cho nên tính cả tháng thiếu, tháng đủ, cộng ba trăm sáu mươi nhăm ngày mà thành một năm, chứa các khí ‘doanh, sóc, hư’ lại mà thành ra tháng nhuận (4).(7)

Lập cây thẳng làm nêu để nhận phương hướng, tính kỹ những giờ khắc thừa...Đó là hoàn tất cái nhiệm vụ thiên độ (5) (8).

Hoàng Đế hỏi rằng (9):

Tôi đă được nghe thiên độ rồi. Xin cho nghe khí số, hợp lại với nhau như thế nào? (1)

Kỳ Bá thưa rằng (10) :

Trời lấy ‘sáu sáu’ làm tiết, đất lấy ‘chín chín’ chế hội (2)

Trời có mười ngày, chọn sáu lần mười ngày mà chu giáp, th́ thành một năm (11).

Những bực thông thiên đời xưa, biết được cái gốc về sự sống của con người, là gốc ở Âm dương. Cái khí đó ở đất th́ là chín châu, ở người th́ là chín khiếu, đề thông với tam khí (4).

Cho nên sinh ra năm tạng, mà khí th́ có ba (5). Do ba mà thành đất, do ba mà thành người (6).

Ba mà nhân với ba, hợp lại th́ thánh chín, chín chia ra làm chín dă (khu vực), chín đă chia ra làm chín tạng (7).

Cho nên ở con người, về hữu h́nh có bốn tạng về ‘thân có năm tạng’, hợp lại thành chín tạng để ứng với chín ‘dă’ ở trên (8).

Hoàng Đế hỏi rằng:

Tôi được nghe cái tiết ‘sáu sáu’ và cái số ‘chín chín’ rồi. Trên kia phu tử nói: ‘chứa khí...Thành nhuận’. Vậy chẳng hay thế nào là khí? (1)

Kỳ Bá thưa răng:

Năm ngày là một ‘hậu’, ba ‘hậu’ là một ‘khí’ sáu ‘khí’ là một mùa; bốn mùa là một năm...Mà đều theo khí của mùa để làm chủ trị (2).

Năm vận cùng rập theo nhau, để cùng đi, cứ đến chọn cái tháng cuối năm, hết ṿng rồi lại bắt đầu. Mùa đă lập, khí tán bố, như ṿng không chỗ nói. Về ‘hậu’ cũng một khuôn phép ấy (3)

Cho nên nói rằng ‘không biết sự ‘da lÂm’ trong một năm, sự suy hay thịnh của khí, và hư thực bởi đâu phát sinh...Không thể gọi là ‘lương công’ (4).

Hoàng Đế hỏi rằng:

Bắt đầu năm vận, quanh đi như ṿng không đầu mối. Vậy về ‘thái quá’ và ‘bất cập’ như thế nào (1).

Kỳ Bá thưa rằng:

Năm khí thay đổi, đều có ‘sở thắng’, ‘thịnh’ hay ‘hư’ xảy ra là cái lệ thường (2).

Hoàng Đế hỏi rằng:

Năm khí thay đổi, đều có ‘sở thắng’, ‘thịnh’ hay ‘hư’ xảy ra cái lệ thường (2).

Hoàng Đế hỏi rằng:

Thế nào là b́nh khí ?

Kỳ Bá thưa rằng:

Không sai với thường hậu là b́nh (3)

Hoàng Đế hỏi rằng:

Thế nào là thái quá bất cập?

Kỳ Bá thưa rằng:

- Ở Kinh đă có nói rồi (4).

Hoàng Đế hỏi rằng:

Thế nào là Sở thắng?...

Kỳ Bá thưa rằng:

Xuân thắng trường hạ, trường hạ thắng Đông, Đông thắng Hạ, Hạ thắng Thu, Thu thắng Xuân... Đó là được cái thắng về năm hành; nhân lấy cái khí đó để đặt tên cho Tạng (1).

Hoàng Đế hỏi rằng:

Sao lại biết là thắng?

Kỳ Bá thưa rằng:

Cốt t́m ở cái khí của nó, nhưng đều phải bắt đầu từ mùa xuân. Nếu khí chửa đến mà đă đến, th́ gọi là thái quá. Nóù sẽ bách cái ‘sở bất thắng’ mà lấn cái ‘sở thắng’. Như thế gọi là khi rÂm không phận, tật bệnh sẽ sinh ra ở bên trong, lương công cũng không thể ngăn được (2). Nếu đă đến mà không đến, th́ gọi là bất cập. Như thế th́ cái ‘sở thắng’ nó sẽ vọng hành, mà cái ‘sở sinh’ sẽ thu bệnh. V́ cái bất thắng nó bách đến nóùăi thế. Nên gọi là ‘khí bách’ (3).

Ta cần phải cầu cái lúc khi nó đến. Cẩn thận để chờ cho đúng lúc, khi có thể cùng hẹn. Nếu trái cái th́ hậu ấy, th́ cái khí của năm vận sẽ không phân, tật bệnh sẽ sinh ra ở bên trong, dù lương công cũng không chữa được (4).

Hoàng Đế hỏi rằng:

Có sự ǵ duyên tập chăng?

Kỳ Bá thưa rằng:

Khí của trời, không thể nào vô thường, nếu khí không duyên tập, tức là phi thường, phi thường th́ là biến (2).

Hoàng Đế hỏi rằng:

Phi thường th́ sẽ biến như thế nào?

Kỳ Bá thưa rằng:

Biến đến th́ mắc bệnh, sở thắng th́ nhẹ, sở bất thắng th́

nặng. Nhân đó mà lại mắc thêm tà khí th́ sẽ chết. Cho nên không phải ‘th́’ của nó th́ bệnh nhẹ, đúng vào ‘th́’ của nó th́ bệnh nặng (3).

Hoàng Đế hỏi rằng:

Tôi nghe: Khí hợp mà có h́nh, nhân biến mà đặt tên; cái vận của trời đất, sự hóa của Âm dương, đối với muôn vật, cái ǵ ít, cái ǵ nhiều, xin cho biết (1).

Kỳ Bá thưa rằng:

Loài thảo sinh ra năm sắc, đến sự biến của năm sắc, sức mắt không thể trông siết, loài thảo sinh ra năm vị, đến cái ngon của năm vị, người ta không thể dùng siết (2).

Sự thị dục của tạng không giống nhau, mà đều có giao thông với nhau (3) Trời nuôi con người lấy năm khí, đất nuôi con người bằng năm vị. Năm khí vào mũi, chứa ở Tâm Phế, khiến cho năm sắc sáng sủa, tiếng nói rơ ràng, năm vị vào miệng, chứa ở trường vị. Vị có nơi chứa, để nuôi năm khí. Khí ḥa sẽ cùng sinh tân dịch thấm thuần, ‘thần’ do đó sẽ sinh ra   (4).

Hoàng Đế hỏi:

H́nh tượng của các tạng như thế nào?

Kỳ Bá thưa rằng:

Tâm là cái gốc của sinh mệnh con người, sự biến hóa của thần do đó là sinh ra. Vẻ tươi đẹp hiện lên mặt, và đầy đủ khắp huyết mạch. Nóù là kinh thái dương ở trong Dương, thông với khí mùa Hạ (1)

Phế là cái gốc của khí, phách kư túc ở đó. Nóù phát hiện ra ngoài lông, và đầy ở trong b́ phu. Nóù là Thái Âm ở trong dương, thông với khí mùa Thu (2).

Thận là mộc nơi gốc của sự bế tạng, ‘tinh’ chứa ở nơi đó. Nóù tốt đẹp lên tóc, đầy đủ ở trong xương, Nóù là Âm ở trong thiếu Âm, thông với khí mùa Đông (3).

Can là cái gốc của sự làm lụng khó nhọc, hồn kư túc ở đó. Nóù tươi đẹp ra các móng tay chân, và đầy đủ ở trong gân. Nóù sinh ra huyết khí. Thuộc về vị là chua, thuộc về sắc là sanh. Nóù là Thiếu dương ở trong dương, thông với khi mùa Xuân (4).

Tỳ, Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng Quang...là cái gốc của kho đụn. Vinh gửi ở nơi đó, gọi nó là một cơ quan như đồ dùng. Nóù hóa được các chất cặn bă, và du chuyển các vị vào hay ra. Nóù tươi đẹp lên môi và xung quanh miệng. Nóù đầy đủ ra ở thịt. Thuộc về là vị ngọt, thuộc về sắc là vàng. Nóù là chi Âm, thông với thổ khí (5).

Tổng cộng tất cả mười một tạng, đều thủ quyết ở Đởm. (6)

Cho nên: mạch ở nhân nghinh thấy một thịnh, th́ bệnh ở Thiếu dương, thấy hai thịnh th́ bệnh ở Thái dương; thấy ba thịnh th́ bệnh ở Dương minh; thấy bốn thịnh trở lên th́ tức là cách dương (1).

Mạch ở thốn khẩu thấy một thịnh, th́ bệnh ở Quyết Âm thấy hai thịnh th́ bệnh Thiếu Âm; thấy ba thịnh th́ bệnh ở Thái Âm. Thấy bốn thịnh trở lên th́ tức là Quan Âm (2).

Mạch ở nhân nghinh với thốn khẩu đều thấy thịnh, gấp bốn lần trở lên th́ gọi là quan cách. Mạch về chứng quan cách, nếu quá không thể hợp được với tinh khí của trời đất, th́ sẽ phải chết (3).

SÁCH TỐ VẤN

MỤC LỤC SÁCH TỐ VẤN
Thiên 01: THƯỢNG CỔ THIÊN CHÂN LUẬN
Thiên 02: TỨ KHÍ ĐIỀU THẦN LUẬN
Thiên 03: SINH KHÍ THÔNG THIÊN LUẬN
Thiên 04: KIM QUĨ CHÂN NGÔN LUẬN
Thiên 05: ÂM DƯƠNG ỨNG TƯỢNG ĐẠI LUẬN
Thiên 06: ÂM DƯƠNG LY HỢP LUẬN
Thiên 07: ÂM DƯƠNG BIỆT LUẬN
Thiên 08: LINH LAN BÍ ĐIỂN LUẬN
Thiên 09: LỤC TIẾT TẠNG TƯỢNG LUẬN
Thiên 10: NGŨ TẠNG SINH THÀNH
Thiên 11: NGŨ TẠNG BIỆT LUẬN
Thiên 12: DỊ PHÁP, PHƯƠNG NGHI LUẬN
Thiên 13: DI TINH BIẾN KHÍ LUẬN
Thiên 14: THANG DỊCH GIAO LỄ LUẬN
Thiên 15: NGỌC BẢN LUẬN YẾU
Thiên 16: CHẨN YẾU KINH CHUNG LUẬN
Thiên 17: MẠCH YẾU TINH VI LUẬN
Thiên 18: B̀NH NHÂN KHI TƯỢNG LUẬN
Thiên 19: NGỌC CƠ CHÂN TÀNG LUẬN
Thiên 20: TAM BỘ CỬU HẬU LUẬN
Thiên 21: KINH MẠCH BIỆT LUẬN
Thiên 22: TÀNG KHI PHÁP THỜI LUẬN
Thiên 23: TUYÊN MINH NGŨ KHI
Thiên 24: HUYẾT KHI H̀NH CHÍ
Thiên 25: BẢO MỆNH TOÀN H̀NH LUẬN
Thiên 26: BÁT CHÍNH THẦN MINH LUẬN
Thiên 27: LY HỢP CHÂN TÀ LUẬN
Thiên 28: THÔNG B̀NH HƯ THỰC LUẬN
Thiên 29: THÁI ÂM DƯƠNG MINH
Thiên 30: DƯƠNG MINH MẠCH GIẢI
Thiên 31: NHIỆT BỆNH
Thiên 32: THÍCH NHIỆT
Thiên 33: B̀NH NHIỆT BỆNH LUẬN
Thiên 34: NGHỊCH ĐIỀU LUẬN
Thiên 35: NGƯỢC LUẬN
Thiên 36: THÍCH NGƯỢC
Thiên 37: KHÍ QUYẾT LUẬN
Thiên 38: KHÁI LUẬN
Thiên 39: CỬ THỐNG LUẬN
Thiên 40: PHÚC TRUNG LUẬN
Thiên 41: THÍCH YÊU THỐNG
Thiên 42: PHONG LUẬN
Thiên 43: TƯ LUẬN
Thiên 44: NUY LUẬN
Thiên 45: QUYẾT LUẬN
Thiên 46: BỆNH NĂNG LUẬN
Thiên 47: KỲ BỆNH LUẬN
Thiên 48: ĐẠI KỲ LUẬN
Thiên 49: MẠCH GIẢI
Thiên 50: THÍCH YÊU LUẬN
Thiên 51: THÍCH TỄ
Thiên 54: CHÂM GIẢI
Thiên 55: TRƯỜNG THÍCH TIẾT LUẬN
Thiên 56: B̀ BỘ LUẬN
Thiên 57: KINH LẠC LUẬN
Thiên 58: KHI HUYẾT LUẬN
Thiên 59: KHI PHỦ LUẬN
Thiên 60: CỐT KHÔNG LUẬN
Thiên 61: Thủy nhiệt huyệt luận
Thiên 62: ĐIỀU KINH LUẬN
Thiên 63: MẬU THÍCH LUẬN
Thiên 64: TỨ THỜI THÍCH NGHỊCH TÙNG LUẬN
Thiên 65: TIÊU BẢN LUẬN
Thiên 66: THIÊN NGUYÊN KỶ ĐẠI LUẬN
Thiên 67: NGŨ VẬN HÀNH ĐẠI LUẬN
Thiên 68: LỤC VI CHỈ ĐẠI LUẬN
Thiên 69: KHI GIAO BIẾN LUẬN
Thiên 70-71: NGŨ THƯỜNG CHÍNH ĐẠI LUẬN
Thiên 72-73: LỤC NGUYÊN CHÍNH KỶ ĐẠI LUẬN
Thiên 74: CHÍ CHÂN YẾU ĐẠI LUẬN
Thiên 75: TRỨ KHÍ GIÁO LUẬN
Thiên 76: THỊ THUNG DUNG LUẬN
Thiên 77: SƠ NGŨ QUÁ LUẬN
Thiên 78: CHƯNG TỨ THẤT LUẬN
Thiên 79: ÂM DƯƠNG LOẠN LUẬN
Thiên 80: PHƯƠNG THỊNH SUY LUẬN
Thiên 81: GIẢI TINH VI LUẬN
 
KINH ĐIỂN

Sách Kim Quỹ

Sách Linh Khu

Sách Nan Kinh

Sách Tố Vấn

Sách Thương Hàn Luận

 

Back

Forward


YKHOANET

, In trang này   J

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Design by HT MEDSOFT

C
Xem trang tốt nhất ở độ rộng màn h́nh 1024 x 768 -- Tŕnh duyệt  Internet Explorer 5.0 trở về sau

http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/kinhdien/SACHTOVAN/THIEN09.htm