Y HỌC CỔ TRUYỀN - KINH ĐIỂN |
|
THIÊN 6: THỌ YẾU CƯƠNG NHUHoàng Đế hỏi Thiếu sư: “Ta nghe nói sự sống của con người (biểu hiện) bằng những nét có cương có nhu, có nhược có cường, có đoản có trường, có Âm có Dương, Ta mong được nghe về phương cách xử lư (các trường hợp đă nói trên)”[1]. Thiếu sư đáp: “Trong Âm có Âm, trong Dương có Dương [2]. Chúng ta phải thẩm đoán về Âm Dương để biết cách xử trí về việc châm, phải nắm được cái gốc bệnh bắt nguồn ở đâu để cho việc châm trị thuận được cái lư của nó, phải cẩn trọng đo lường được cái đầu mối của bệnh xem nó đang tương ứng với “thời” nào, bên trong nó hợp với ngũ tạng lục phủ, bên ngoài nó hợp với cân cốt b́ phu [3]. Do đó, ta biết được rằng bên trong có Âm Dương th́ bên ngoài cũng có Âm Dương [4]. Nếu nh́n bên trong th́ ngũ tạng thuộc Âm, lục phủ thuộc Dương, nếu nh́n bên ngoài th́ cân cốt thuộc Âm, b́ phu thuộc Dương [5]. Cho nên mới nói rằng nếu Âm bệnh ở tại Âm phận th́ châm huyệt Huỳnh và huyệt Du thuộc Âm, nếu Dương bệnh ở tại Dương phận th́ châm huyệt Hợp thuộc Dương, nếu Dương bệnh ở tại Âm phận th́ châm huyệt Kinh thuộc Âm, nếu Âm bệnh ở tại Dương phận th́ châm huyệt ở lạc mạch [6]. Cho nên nói rằng: Bệnh ở tại kinh Dương được gọi tên là “phong”, bệnh ở tại kinh Âm được gọi tên là “tư”; Cả Âm lẫn Dương đều bị bệnh được gọi là “phong tư” [7]. Bệnh hữu h́nh mà không “thống: đau”, đó là loại của Dương, bệnh vô h́nh mà đau, đó là loại của Âm[8]. Bệnh vô h́nh mà “thống”, đó là Dương kinh ở t́nh trạng mạnh c̣n Âm kinh đang bị “thương”, vậy nên trị gấp Âm kinh mà không nên “công: đánh vào” Dương kinh [9]. Bệnh hữu h́nh mà “bất thống”, đó là Âm kinh ở t́nh trạng mạnh c̣n Dương kinh đang bị “thương”, vậy nên trị gấp Dương kinh mà không nên “công: đánh vào” Âm kinh [10]. Nếu cả Âm lẫn Dương kinh đều bị “động”, có lúc như “hữu h́nh”, có lúc như “vô h́nh”, thêm vào đó nó làm cho Tâm bị phiền, được gọi là Âm thắng Dương, trường hợp này được gọi là “không biểu, không lư”; sự biểu hiện của h́nh trạng bệnh không kéo dài lâu [11]. Hoàng Đế hỏi Bá Cao: “Vấn đề tiên và hậu trong cái bệnh về h́nh khí được ứng ở ngoại và nội như thế nào ?”[12]. Bá Cao đáp: “Phong khí và hàn khí làm thương đến “h́nh”, ưu, khủng, phẫn nộ làm thương đến “khí” [13]. Khi mà khí làm thương tổn đến tạng th́ sẽ làm cho tạng bệnh, hàn làm thương đến h́nh th́ sẽ ứng ra h́nh, phong làm thương đến cân mạch th́ cân mạch mới ứng ra, đó là những sự tương ứng giữa h́nh khí và ngoại nội vậy” [14]. Hoàng Đế hỏi: “Phép châm như thế nào ?” [15]. Bá Cao đáp: “Bệnh được 9 ngày th́ châm 3 lần là hết bệnh, bệnh 1 tháng châm 10 lần th́ hết bệnh, nhiều hay ít, xa hay gần đều dựa vào đó để qui định mức độ[16]. Nếu có trường hợp bệnh “tư” lâu ngày mà không rời khỏi thân thể (bệnh không hết), chúng ta nên t́m những nơi có huyết lạc để mà châm xuất huyết cho hết mới thôi” [17]. Hoàng Đế hỏi: “Bệnh ngoại và nội, việc châm trị dễ hay khó, phải hiểu như thế nào?” [18]. Bá Cao đáp: “Khi nào h́nh bệnh trước mà chưa nhập vào tạng th́ chỉ nên cần châm chừng phân nửa thời gian châm cần thiết mà thôi [19]. Khi nào tạng bệnh trước rồi sau đó h́nh mới ứng theo ra, thời gian châm phải tăng lên gấp bội [20]. Đó là vấn đề châm tùy theo sự tương ứng giữa ngoại và nội mà có sự dễ và khó” [21]. Hoàng Đế hỏi Bá Cao: “Ta nghe h́nh thể con người có hoăn có cấp, khí có thịnh có suy, cốt có đại có tiểu, nhục có cứng có mềm, b́ (da) có dày có mỏng, Ta phải dựa lên đó như thế nào để định được vấn đề “thọ” hay “yểu” ?” [22]. Bá Cao đáp: “H́nh với khí tương xứng th́ thọ, bất tương xứng th́ yểu [23]. B́ với nhục cùng “bao bọc” lấy nhau th́ thọ, không “bao bọc” lấy nhau th́ yểu [24]. Huyết khí và kinh lạc thắng h́nh th́ thọ, không thắng h́nh th́ yểu” [25]. Hoàng Đế hỏi: “Thế nào là sự hoăn cấp của h́nh ?” [26]. Bá Cao đáp: “H́nh thể sung nhưng b́ phu “hoăn: thư thả” th́ thọ, h́nh thể sung nhưng b́ phu “cấp: căng thẳng” th́ yểu [27]. H́nh sung nhưng mạch kiên đại th́ thuận, h́nh thể sung nhưng mạch tiểu đến nhược, đó là khí suy, khí suy th́ nguy [28]. Nếu như h́nh thể sung nhưng quyền (xương má) không nhô lên th́ đó là cốt (người ấy) tiểu, cốt tiểu th́ yểu [29]. H́nh thể sung nhưng khối thịt to ở mông rắn chắc nổi bật rơ rệt, đó là nhục kiên (rắn), nhục kiên th́ tho [30]ï. H́nh thể sung nhưng khối thịt ở mông không nổi bật, đó rơ ràng là mông không rắn chắc, tức là nhục bị mềm lỏng, nhục bị mềm lỏng th́ yểu [31]. Trên đây là nói về cái sinh mệnh của Trời sinh, dựa vào đó là lập nên cái h́nh thể, định nên cái khí (chất) [32]. Muốn xem biết được thọ hay yểu, chúng ta bắt buộc phải rơ điều này [33]. Có lập được cái h́nh đó, định được cái khí đó sau đó mới dựa vào nó khi nó sinh ra bệnh mà quyết việc tử sinh [34]. Hoàng Đế hỏi: “Vấn đề thọ yểu không biết lấy ǵ để quy định được phải không ?” [35]. Bá Cao đáp: “Bốn bên của gương mặt thấp xuống, cao không bằng những nơi như (Minh đường, khuyết, đ́nh... ) những người này chưa đầy 30 tuổi sẽ chết. Nếu có những nhân tố làm bệnh tật ǵ thêm th́ không đầy 20 tuổi sẽ chết” [36]. Hoàng Đế hỏi: “Vấn đề dựa vào sự tương thắng của h́nh và khí để định sự “thọ” và “yểu” như thế nào ?” [37]. Bá Cao đáp: “Ở người b́nh thường, nếu khí thắng h́nh th́ thọ, giả sử họ bị bệnh đến nỗi phần h́nh nhục bị thoát, khí thắng h́nh, phải chết [38]. Những người mà h́nh (sung) nhưng khí lại suy, h́nh thắng khí cũng nguy” [39]. Hoàng Đế hỏi: “Ta nghe phép châm có “tam biến”, thế nào gọi là “tam biến”?[40]. Bá Cao đáp: “Có phép châm “doanh khí”, có phép châm “vệ khí”, có phép châm “lưu kinh của hàn khí” [41]. Hoàng Đế hỏi: “Châm tam biến phải thế nào ?” [42]. Bá Cao đáp: “Châm “doanh khí” phải xuất huyết, châm “vệ khí” phải xuất khí, châm “hàn tư” phải cho nội nhiệt” [43]. Hoàng Đế hỏi:” Sự gây bệnh của “doanh khí”, của “vệ khí”, của “hàn tư” như thế nào?” [44]. Bá Cao đáp: “Doanh khí” khi gây bệnh sẽ làm cho bị hàn nhiệt, thiếu khí huyết chạy lên xuống [45]. “Vệ khí” gây bệnh sẽ làm cho khí thông, khi đến khi đi, làm cho uất nộ, thở mạnh, ruột sôi mạnh, phong hàn ở khách tại Trường Vị [46]. “Hàn tư” khi gây bệnh sẽ ở lại tại một chỗ, không dời đi nơi khác, gây đau nhức từng lúc, da không c̣n cảm giác đau (bất nhân) [47]. Hoàng Đế hỏi: “Phép châm hàn tư và thực hiện nội nhiệt như thế nào ?”[48]. Bá Cao đáp: “Khi nào châm trị cho lớp người áo vải th́ dùng lửa(sau khi châm) để hơ đốt thêm [49]. Khi châm trị cho những bậc đại nhân th́ phải dùng thuốc để đắp hơ lên (chỗ châm)”[50]. Hoàng Đế hỏi: “Phép dùng thuốc để đắp hơ như thế nào ?” [51]. Bá Cao đáp: “Dùng 20 cân rượu ngon, Thục tiêu 1 thăng, Can khương 1 cân, Quế 1 cân. Tất cả 4 thứ thuốc này được cắt nhỏ ra ngâm vào trong rượu, Dùng bông g̣n 1 cân, vải trắng mịn 4 trượng, tất cả bọc lại cho vào trong rượu, để b́nh rượu lên cái ḷ có đốt phân ngựa phơi khô; B́nh rượu phải được đậy nắp, trét kín lại không cho ra hơi; Ngâm như vậy trong 5 ngày 5 đêm, xong mới lấy bọc vải có bông đem ra phơi nắng cho khô. Sau đó lại tiếp tục ngâm cho đến khi nào nó ra hết nước cốt (trấp). Bây giờ cứ mỗi lần ngâm là phải tṛn 1 ngày và khi lấy ra nó đă khô. Chúng ta lấy cái xác khô ấy đă trộn lẫn với bông gói kín lại trong chiếc khăn dài chừng 6, 7 xích. Chúng ta sẽ có chừng 6, 7 gói như vậy. Trong mỗi khăn đều có chứa sẵn một loại tro than của cây dâu tươi được đốt cháy. Chúng ta dùng khăn này để hơ đắp, cứu lên trên chỗ đă được châm về hàn tư. Làm như vậy, chúng ta sẽ khiến cho cái nhiệt nhập vào tận nơi bị bệnh hàn. Chúng ta làm như vậy khoảng 30 lần mới thôi .Nếu mồ hôi ra, chúng ta dùng khăn để lau khô, lau cũng phải đến 30 lần. Sau đó bảo người bệnh đứng lên đi bộ chậm vào trong nhà (buồng) kín gió. Mỗi lần châm đều phải hơ đắp như thế th́ bệnh sẽ khỏi. Đây là phép “nội nhiệt” [52]. |
, In trang này J Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/kinhdien/linhkhu/THIEN06.htm |