Y HỌC CỔ TRUYỀN - KINH ĐIỂN


 

THIÊN 29:  SƯ TRUYỀN

 Hoàng Đế nói: "Ta nghe nói các bậc tiên sư có những điều chỉ giữ trong Tâm mà không sáng tác ra bằng sách vở, ta mong được nghe để gìn giữ, rồi bắt chước để thực hiện nó; Trên ta dùng nó để trị dân, dưới dùng để trị bản thân mình, làm sao cho trăm họ không bị bệnh, trên dưới được hòa thuận thân mến nhau, đức trạch trôi chảy xuống dưới con cháu không còn lo âu, truyền đến đời sau không có lúc nào dứt, Ta có thể nghe những điều ấy không ?" [1].

Kỳ Bá đáp : "Thật là câu hỏi sâu xa lắm vậy, Ôi ! Phép trị dân hay tự trị cho mình, phép trị chỗ khác hay chỗ này, phép trị việc nhỏ, hoặc việc lớn, phép trị quốc hay trị gia, chưa bao giờ trị theo phép nghịch mà có thể trị được vậy[2]. Ôi ! Duy chỉ có phép trị theo phép thuận mà thôi vậy, thuận ở đây không phải chỉ nói đến mạch Âm Dương để rồi luận về thuận nghịch của khí mà thôi đâu mà ta phải suy ra rằng trăm họ nhân dân đều mong muốn làm thuận được cái chí của mình nữa"[2].

Hoàng Đế hỏi: "Vậy phải hiểu thuận như thế nào ?"[3].

Kỳ Bá đáp : "Khi vào nước người ta thì phải hỏi (cho biết được) phong tục của người ta, khi vào nhà người ta thì phải hỏi (cho biết được) những điều kiêng kỵ của người ta, khi lên đến chỗ đường thì phải hỏi (cho biết được) cái lễ của người ta, khi đến với bệnh nhân thì phải hỏi (cho biết được) những điều thay đổi nghịch thuận của người ta"[4].

Hoàng Đế hỏi: "Phải thay đổi như thế nào để thích nghi với bệnh nhân ?"[5].

Kỳ Bá đáp : "Ôi ! Nếu nhiệt ở trung (giữa) là bệnh tiêu đơn, vậy phải thích nghi bằng hàn, nếu bệnh thuộc hàn ở giữa, vậy nên thích nghi bằng nhiệt[6[. Nếu trong Vị bị nhiệt thì tiêu cốc khí, khiến cho người bệnh Tâm không an, thường hay đói[7]. Nếu vùng da phía trên rốn bị nhiệt thì trong ruột (trường) cũng nhiệt, tiêu ra phân vàng mà nát ra[8]. Nếu vùng da dưới rốn bị hàn thì trong Vị cũng hàn, như vậy sẽ bị phúc trướng[9]. Trong ruột bị hàn thì ruột sôi và tiêu chảy (xôn tiết)[10]. Trong Vị bị hàn, trong ruột bị nhiệt thì bị chướng mà thêm tiêu chảy[11]. Trong Vị bị nhiệt trong ruột bị hàn thì mau bị đói, vùng thiếu phúc đau và trướng"[12].

Hoàng Đế hỏi: "Nếu Vị muốn uống lạnh mà Trường muốn uống nóng, cả hai nghịch nhau, việc thích nghi phải thế nào ?[13] . Vả lại, các bậc vương công, đại nhân, các bậc quân ưa (những thức ăn thịt) có máu, tất cả họ đều sống rất là kiêu sa, phóng túng, ham muốn khinh người, nhưng không thể nào cấm được, nếu cấm thì nghịch lại cái chí của họ, còn nếu thuận theo họ thì càng làm cho bệnh của họ nặng thêm, và nên thích nghi như thế nào ? Phép trị phải làm gì trước ?"[14]

Kỳ Bá đáp : "Tình của con người, không ai không ham sống và sợ chết, vậy ta nên báo cho họ biết bằng những hư bại của họ, nói cho họ biết những điều tốt của họ, dẫn dắt họ bằng những con đường thích nghi, mở ra cho họ thấy những điều khổ của ho,.nNhư vậy, cho dù họ là những người không biết cái Đạo (dưỡng sinh) là gì, họ lại dám không nghe theo hay sao ?"[15].

Hoàng Đế hỏi: "Phép trị phải thế nào ?"[16].

Kỳ Bá đáp : "Mùa xuân hạ, trước hết phải trị phần tiêu, sau đó mới trị phần bản; mùa thu đông, trước hết phải trị phần bản, sau đó mới trị phần tiêu"[17].

Hoàng Đế hỏi: "Thích nghi trường hợp nghịch lại, phải làm sao ?"[18].

Kỳ Bá đáp : "Thích nghi trường hợp này, phải: việc ăn uống, mặc quần áo cũng phải thích nghi với độ nóng lạnh, nếu lạnh thì đừng để lạnh căm căm, nếu nóng đừng để ra mồ hôi, trong lúc ăn uống, nóng đừng nóng phừng phừng, lạnh đừng lạnh buốt buốt, việc nóng lạnh cốt ở giữ được mức trung hòa, nhờ đó mà duy trì được nguyên khí, không để cho tà khí tấn công"[19].

Hoàng Đế hỏi: "Thiên ‘Bản Tạng’ dựa vào thân hình, chi và tiết, sự cứng mềm của cơ nhục để biết được sự lớn nhỏ của ngũ tạng và lục phủ, nay đối với các bậc vương công, đại nhân, bậc vua chúa lâm triều tức vị, mà ta đặt vấn đề này, ai có thể sờ mó, day ấn để rồi sau đó trả lời cho được ?"[20].

Kỳ Bá đáp : "Thân hình, tay chân và các đốt xương bàn tay chân là những nơi che đậy tạng phủ, nó không dễ nhận thấy được như khi ta quan sát gương mặt"[21].

Hoàng Đế hỏi: "Khí của ngũ tạng có thể nhìn thấy được ở gương mặt, điều đó ta đã biết rồi, nhưng qua tay chân và các đốt xương bàn tay chân để có thể biết và nhận thấy thì như thế nào ?"[22].

Kỳ Bá đáp : "Trong ngũ tạng và lục phủ thì Phế đóng vai trò cái nắp đậy, cứ nhìn nơi vai to hoặc độ lõm vào của vùng yết hầu để biết được hình trạng của Phế biểu lộ ra ngoài"[23].

Hoàng Đế nói: "Đúng thay ! "[24].

Kỳ Bá đáp : "Trong lục phủ ngũ tạng, Tâm đóng vai quân chủ, Khuyết bồn đóng vai đường đi, xương đầu của xương lồng ngực dư ra để biểu lộ nơi xương Cưu vĩ"[25].

Hoàng Đế nói: "Đúng thay ! "[26].

Kỳ Bá đáp : "Can đóng vai tướng quân, xông pha ra ngoài, muốn biết mức kiên cố của nó, nên xem mắt lớn hay nhỏ"[27].

Hoàng Đế nói: "Đúng thay !"[28].

Kỳ Bá đáp : "Tỳ đóng vai chủ về bảo vệ, nó đón nhận thức ăn, cứ nhìn sự yêu ghét (tốt xấu) của môi lưỡi để biết được việc lành dữ "[29].

Hoàng Đế nói: "Đúng thay !"[30].

Kỳ Bá đáp : "Thận đóng vai nghe việc bên ngoài, nó nghe được chuyện ở xa, cứ nhìn sự yêu ghét của tai để biết được tính của nó"[31].

Hoàng Đế nói: "Đúng thay ! Ta mong được nghe về sự biểu hiện của lục phủ"[32].

Kỳ Bá đáp : “Trong lục phủ, Vị đóng vai biển cả, xương mình rộng, cổ to, ngực rộng, người như vậy sẽ ăn được nhiều ngũ cốc[33]. Mũi hít sâu mà dài, nó biểu hiện được tình trạng của Đại trường[34]. Môi dầy, Nhân trung dài, biểu hiện được tình trạng của Tiểu trường[35]. Vùng mí dưới mắt no đầy và to thì Đởm mới có sự cứng rắn[36]. Hai lỗ của mũi nằm bên ngoài, nhờ nó mà Bàng quang được thông tiết ra ngoài[37]. Khi hít khí vào là đi từ giữa sống mũi, nhờ vậy mà vai trò của Tam tiêu được kín đáo[38]. Trên đây là những trường hợp biểu hiện được vai trò của lục phủ, Khi nào ba vùng trên dưới được bình đẳng thì ngũ tạng được an và vận hành được tốt”[39].

LINH KHU

THIÊN 01: CỬU CHÂM THẬP NHỊ NGUYÊN
THIÊN 02: BẢN DU
THIÊN 03: TIỂU CHÂM GIẢI
THIÊN 04: TÀ KHÍ TẠNG PHỦ BỆNH HÌNH
THIÊN 05: CĂN KẾT
THIÊN 06: THỌ YẾU CƯƠNG NHU
THIÊN 07: QUAN CHÂM
THIÊN 08: BẢN THẦN
THIÊN 09: CHUNG THỈ
THIÊN 10: KINH MẠCH
THIÊN 11: KINH BIỆT
THIÊN 12: KINH THỦY
THIÊN 13: KINH CÂN
THIÊN 14: CỐT ĐỘ
THIÊN 15: NGŨ THẬP DOANH
THIÊN 16: DOANH KHÍ
THIÊN 17: MẠCH ĐỘ
THIÊN 18: DOANH VỆ SINH HỘI
THIÊN 19: TỨ THỜI KHÍ
THIÊN 20: NGŨ TÀ
THIÊN 21: HÀN NHIỆT BỆNH
THIÊN 22: ĐIÊN CUỒNG
THIÊN 23: NHIỆT BỆNH
THIÊN 24: QUYẾT BỆNH
THIÊN 25: BỆNH BẢN
THIÊN 26: TẠP BỆNH
THIÊN 27: CHU TÝ
THIÊN 28: KHẨU VẤN
THIÊN 29: SƯ TRUYỀN
THIÊN 30: QUYẾT KHÍ
THIÊN 31: TRƯỜNG VỊ
THIÊN 32: BÌNH NHÂN TUYỆT CỐC
THIÊN 33: HẢI LUẬN
THIÊN 34: NGŨ LOẠN
THIÊN 35: TRƯỚNG LUẬN
THIÊN 36: NGŨ LUNG TÂN DỊCH BIỆT LUẬN
THIÊN 37: NGŨ DUYỆT NGŨ SỨ
THIÊN 39:  HUYẾT LẠC LUẬN
THIÊN 40: ÂM DƯƠNG THANH TRỌC LUẬN
THIÊN 41: ÂM DƯƠNG  HỆ NHẬT NGUYỆT LUẬN
THIÊN 42:  BỆNH TRUYỀN
THIÊN 43: DÂM TÀ PHÁT MỘNG
THIÊN 44: THUẬN KHÍ NHẤT NHẬT PHÂN VI TỨ THỜI
THIÊN 45: NGOẠI SỦY
THIÊN 46: NGŨ BIẾN
THIÊN 47: BẢN TẠNG
THIÊN 48: CẤM PHỤC
THIÊN 49: NGŨ SẮC
THIÊN 50: LUẬN DŨNG
THIÊN 51:  BỐI DU
THIÊN 52: VỆ KHÍ
THIÊN 53:  LUẬN THỐNG
THIÊN 54: THIÊN NIÊN
THIÊN 55: NGHỊCH THUẬN
THIÊN 56: NGŨ VỊ
THIÊN 57: THỦY TRƯỚNG
THIÊN 58: TẶC PHONG
THIÊN 59: VỆ KHÍ  THẤT THƯỜNG
THIÊN 60: NGỌC BẢN
THIÊN 61: NGŨ CẤM
THIÊN 62: ĐỘNG DU
THIÊN 63: NGŨ VỊ  LUẬN
THIÊN 64: ÂM DƯƠNG NHỊ THẬP NGŨ NHÂN
THIÊN 65:  NGŨ ÂM NGŨ VỊ
THIÊN 66: BÁCH BỆNH THỈ SINH
THIÊN 67:  HÀNH CHÂM
THIÊN 68: THƯỢNG CÁCH
THIÊN 69: ƯU KHUỂ VÔ NGÔN
THIÊN 70: HÀN NHIỆT
THIÊN 71: TÀ KHÁCH
THIÊN 72: THÔNG THIÊN
THIÊN 73: QUAN NĂNG
THIÊN 74: LUẬN TẬT  CHẨN XÍCH
THIÊN 75: THÍCH TIẾT  CHÂN TÀ
THIÊN 76:  VỆ KHÍ HÀNH
THIÊN 77 : CỬU CUNG  BÁT PHONG
THIÊN 78: CỬU CHÂM LUẬN
THIÊN 79: TUẾ LỘ LUẬN
THIÊN 80:  ĐẠI HOẶC LUẬN 
THIÊN 81:  UNG THƯ
 
KINH ĐIỂN

Sách Kim Quỹ

Sách Linh Khu

Sách Nan Kinh

Sách Tố Vấn

Sách Thương Hàn Luận

 

Back

Forward


YKHOANET

, In trang này   J

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Design by HT MEDSOFT

C
Xem trang tốt nhất ở độ rộng màn hình 1024 x 768 -- Trình duyệt  Internet Explorer 5.0 trở về sau

http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/kinhdien/linhkhu/THIEN29.htm