YKHOANET


 

MẠCH HOĂN

  (   ½w¯ß - MODERATE PULSE -  POULS RETARDE)

A- ĐẠI CƯƠNG

 - Chương ‘B́nh Mạch Pháp’ (TH. Luận) ghi: “Vệ khí hø̣a gọi là Hoăn. -  Âm mạch và dương mạch điều ḥa gọi là Hoăn”.

- Sách ‘Thiên Kim Dực’ ghi: “Ấn tay thấy mạch vẫn y nguyên gọi là Hoăn”.

- Sách ‘Y Học Nhập Môn’ ghi: “Hoăn là ḥa hoăn “

 B- H̀NH TƯỢNG MẠCH HOĂN

 - Chương ‘Mạch H́nh Trạng Chỉ Hạ Bí Quyết’ (M. Kinh) ghi: “Hoăn qua lại cũng chậm, nhanh hơn Tŕ một ít”.

-Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi : “Mạch Hoăn, 1 hơi thở 4 chí, nư sợi tơ ở dưới tay...”.

- Sách ‘Chẩn Gia Khu Yếu’ ghi: “Hoăn là không cấp bách, qua lại thong thả”.

- Sách ‘Trung Y Học Khái Luận’ ghi: “Mạch Hoăn đi khoan ḥa, đều đặn, số mạch đập không thay đổi mấy”.

- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Mạch Hoăn, 1 hơi thở 4 chí, đi lại khoan thai”.

H̀NH VẼ BIỂU THỊ MẠCH HOĂN

 - Sách ‘Mạch Chẩn’ ghi h́nh vẽ mạch Hoăn như sau:

- Sách ‘Tam Tài Đồ Hội’ và sách ‘Đồ Chú Nan Kinh Mạch Quyết’ ghi h́nh vẽ biểu diễn mạch Hoăn:

- Sách ‘Kết Hợp YHCT với YHHĐ Trong Lâm Sàng’ ghi: “Mạch Hoăn thuộc loại tần số trung b́nh từ 60-80 lần / phút”.

  

C- NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH MẠCH HOĂN

- Chương ‘Y Gia Quan Miện’ (HTYTT. Lĩnh) ghi: “Khí huyết đều hư v́ vậy mạch đến thong thả [Hoăn]”.

- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Tỳ thuộc thổ mà chủ thấp, khí cơ bị thấp tà mà khốn đốn v́ vậy thấy mạch Hoăn”.

-Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học’ giải thích : “Do khí cơ bị thấp tà dính lại gây nên. Tỳ Vị hư yếu, mà Tỳ Vị là nguồn của khí huyết, khí huyết bất túc, không vận hành được, kết lại gây nên mạch Hoăn”   

D- MẠCH HOĂN CHỦ BỆNH

- Chương ‘Thương Hàn Lệ’ (TH. Luận) ghi: “Mạch ở bộ xích và thốn mà đều và Hoăn th́ bệnh ở quyết âm”.

- Chương ‘Biện Thái Dương... trị’ (TH. Luận) ghi: “Thái Dương bệnh, mạch bộ thốn Hoăn, bộ quan Phù, bộ xích Thực, phát sốt, ra mồ hôi sợ lạnh, không nôn mửa, chỉ thấy mạch Vi, Hoăn, đầy tức, đó là do thầy thuốc sử dụng phép Hạ gây ra”.

- Chương ‘Biện Thái Âm... Trị’ (TH. Luận) ghi: “Thương Hàn, mạch Phù Hoăn, b́ phu mất  cảm giác là phong hàn ở cơ nhục”, “Mạch bộ quan Hoăn, biếng ăn là do vị khí không  điều ḥa, Tỳ khí không đủ. Mạch bộ xích Hoăn th́ chân yếu, tiểu tiện không thông”.

- Chương ‘B́nh Tam Quan... Nghi’ (M. Kinh) ghi: “Mạch thốn khẩu Hoăn, b́ phu mất cảm giác là phong hàn ở cơ nhục”. “Mạch bộ quan Hoăn, biếng ăn là do vị khí không  điều ḥa, Tỳ khí  không đủ. Mạch bộ xích Hoăn th́ chân yếu, tiểu tiện không thông”.

- Chương ‘B́nh Tạp Bệnh’ (M. Kinh) ghi: “Mạch Hoăn là hư“.

- Sách ‘Giáp Ất’ ghi: “Mạch Hoăn là nhiệt nhiều”.

- Sách ‘Chẩn Gia Khu Yếu’ ghi: “Mạch Hoăn là phong, là hư, là tư, là yếu, là đau, ở trên là gáy cứng, ở dưới là chân yếu. Mạch bộ thốn bên trái Hoăn là tâm khí không đủ, hồi hộp, hay quên, gáy và lưng đau cấp - Mạch bộ quan (trái) Hoăn là phong hư, chóng mặt, khí kết ở bụng sườn - Mạch bộ xích (trái) Hoăn là Thận hư hàn, tiểu khó, kinh nguyệt ra nhiều - Mạch bộ thốn (phải) Hoăn là Phế khí phù lên, thở ngắn - Mạch bộ quan (phải) Hoăn là Vị khí hư yếu - Mạch bộ xích (phải) Hoăn là chân lạnh yếu, phong bí, khí trệ”.

- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi: “Mạch Hoăn là phần vinh (huyết) bị suy mà phần vệ (khí) lại dư, là phong hoặc thấp hoặc Tỳ hư, trên là gáy cứng đau, dưới là chân tê bại”.

- Sách ‘Trung Y Học Khái Luận’ ghi: “Mạch Hoăn chủ bệnh do thấp tà gây ra”.

- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Mạch Hoăn chủ bệnh về thấp”.

- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Mạch Hoăn chủ về phong thấp, trúng phong, đau nhức, hoa mắt, chóng mặt, hư nhức, ung nhọt, tiểu khó”.

Tả Thốn HOĂN

Tâm khí không đủ.

Hữu Thốn HOĂN

Thương phong.

Tả Quan HOĂN

Can hư.

Hữu Quan HOĂN

Tỳ thấp.

Tả Xích HOĂN

Âm hư.

Hữu Xích HOĂN

Dương suy.

F- MẠCH HOĂN KIÊM MẠCH BỆNH

- Thiên ‘B́nh Nhân Khí Tượng Luận’ (T. Vấn) ghi: “Mạch Hoăn mà Hoạt là chứng nhiệt bên trong”.

- Chương ‘Biện Thái Dương... Trị’ (TH. Luận) ghi: “Thương hàn mạch Phù Hoăn, mạch Vi Hoăn là bệnh sắp khỏi”.

- Chương ‘Trúng Phong Lịch Tiết... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch ở thốn khẩu Tŕ mà Hoăn, Tŕ là hàn, Hoăn là hư . Phần vinh thấy mạch Hoăn là ung huyết, vệ thấy mạch Hoăn là trúng phong “.

- Chương ‘Hoàng Đản Bệnh... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch ở thốn khẩu Phù mà Hoăn, phù là phong, Hoăn là chứng tư”.

- Sách ‘Mạch Ngữ’ ghi: “Mạch Phù mà Hoăn là vệ khí bị tổn thương, Trầm mà Hoăn là vinh khí suy yếu”.

- Sách ‘Chẩn Gia Chính Nhân’ ghi: “Mạch Phù Hoăn là thương phong, Trầm Hoăn là hàn thấp. Hoăn Đại là phong hư. Hoăn Tế là thấp tư. Hoăn Nhược là khí  hư “.

-  Sách ‘Chẩn Gia Khu Yếu’ ghi: “Mạch Phù Hoăn hoặc   Trầm Hoăn là khí  huyết suy yếu”.

- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi:

·  Mạch Hoăn mà Phù là thương phong ở phần biểu.

·  Mạch Hoăn mà Trầm là thấp tư.

·  Mạch Hoăn mà Hoạt là nóng ở trong.

·  Mạch Hoăn mà Sáp là huyết hư.

·  Mạch Hoăn mà Trầm, Tế, vô lực là dương hư.

G- MẠCH HOĂN VÀ ĐIỀU TRỊ

- Chương ‘Biện Thái Dương...Trị’ (TH. Luận) ghi: “Thương hàn mạch Phù Hoăn, cơ thể không đau mà chỉ nặng nề, có khi nhẹ bớt, không có chứng của Thiếu âm, dùng bài Đại Thanh Long Thang (Ma Hoàng, Hạnh Nhân, Thạch Cao, Cam Thảo, Quế Chi) để phát hăn”.

- Chương ‘Y Gia Quan Miện’ (HTYTT. Lĩnh) ghi: “Mạch bộ thốn Hoăn là cổ gáy cứng, cho uống bài Trừ Thấp Thang (Phục Linh, Can Cát, Bạch Truật, Chích Thảo). - Mạch bộ quan (trái) Hoăn: Can hư thấp thịnh. Bộ quan (phải) Hoăn: Tỳ thấp quá nhiều. Nên cho uống bài Nhất Khí  Thang hoặc bài Kiến Trung Thang (Hoàng Kỳ, Nhân Sâm, Quế, Bạch Thược, Đương Quy). Khí kết trong bụng không duỗi ra được, cho uống bài Ôn Bạch Thang (Tử Uyển, Ngô Thù Du, Xương Bồ, Sài Hồ, Hậu Phác, Cát Cánh, Tạo Giác, Ô Đầu, Phục Linh, Quế Tâm, Hoàng Liên, Thục Tiêu, Ba Đậu, Sinh Khương). Mạch tả xích Hoăn là hàn, trưng hà, nằm mơ thấy ma quỷ, cho uống bài Ngũ Linh Tán (Trư Linh, Trạch Tả, Bạch Truật, Phục Linh, Quế Chi) thêm Thương Truật.

H- MẠCH HOĂN QUA CÁC LỜI BÀN

- Sách ‘Mạch Ngữ'‘ ghi: “Các bộ mạch thấy Hoăn là không đủ v́ mạch khí không bật lên vậy”.

- Chương ‘Mạch Thần’ (CNT. Thư) ghi: Mạch Hoăn có âm dương có 3 nghĩa:

·  Một là mạch khí thong dong, ḥa hoăn, là mạch khí của người b́nh thường.
Hai là Hoạt mà Đại là thực nhiệt như sách Nội Kinh ghi: “Mạch Hoăn mà Hoạt là nóng ở trong “.

·  Ba là Hoăn mà Tŕ Tế là hư hàn.

Nếu thực nhiệt th́ phải là Hoăn mà kiêm Đại có lực, là phiền nhiệt, miệng hôi, bụng đầy, unh nhọt, đại tiểu tiện không thông hoặc thương hàn, ôn ngược mới khỏi mà dư nhiệt chưa hết th́ thường thấy mạch này. Nếu hư hàn th́ phải Hoăn mà kiêm Tŕ, Tế, là dương hư, sợ lạnh, đau nhức, chóng mặt, hồi hộp, hay quên, ăn uống không tiêu, tiêu chảy, tiêu sống phân, thận tinh hàn, tiểu  nhiều, đàn bà th́ kinh nguyệt bị bế, thiếu, mất máu. Phàm các chứng sang độc, trúng phong, sản hậu mà gặp mạch Hoăn đều là sắp khỏi”.

- Chương ‘Sư Truyền Tam Thập Nhị Tắc’ (CGK. Yếu) ghi: “Thái dương bệnh phát sốt, đầu đau, mồ hôi tự ra, mạch Phù Hoăn là do phong tà làm hại phần vệ biểu. Mạch Hoăn là gốc của Tỳ, tất phải ḥa hoăn, có thần, là triệu chứng tỳ khí sung măn. Nếu Hoăn nhiều mà Nhược là Tỳ khí không đủ. Hoăn mà hoạt lợi là Vị khí xung ḥa. Người xưa cho mạch Hoăn là thương phong - Trầm Hoăn là hàn thấp - Hoăn Đại là phong  hư - Hoăn Trầm là có thấp ở trong âm”.

- Sách ‘Mạch Ngữ'‘ ghi: “Mạch Hoăn chủ bệnh, có Hoăn của Tŕ, Nhược. Hoăn Tŕ là thương thấp - Hoăn Nhược là khí hư. Hoăn kiêm Sắc là huyết hư - Phù Hoăn là phong thương kinh lạc - Trầm Hoăn là thấp thương tạng phủ - Hồng Hoăn là thấp nhiệt - Tế Hoăn là hàn thấp. C̣n có âm hư thấy mạch Phù Hồng vô lực mà Hoăn, dương hư th́ Trầm Tế vô lực mà Hoăn. Nếu thấy mạch Huyền ở bộ vị của thổ (hữu quan), mạch Hoăn ở bộ vị của thủy (tả xích) là trạng thái mạch khắc. Khi gặp mạch này càng phải xem xét Vị khí ít hoặc nhiều bật nhảy cao hoặc thấp, qua lại chậm hoặc mau th́ mới nắm được bệnh t́nh”.

- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Hoạt Bá Nhân h́nh dung mạch khí thư thả, ḥa hoăn là rất đúng, c̣n Vương Thúc Ḥa cho rằng: “Mạch Hoăn qua lại cũng chậm” th́ chưa ổn”.

I- CÁC Y ÁN MẠCH HOĂN

 Y Án Mạch HOĂN ĐẠI VÔ LỰC

(Trích trong ‘Lục Thị Tam Thế Y Nhiệm’).

“Lục Thiên Ngu chữa 1 người đă già tên là Ngô-Nan-Khâu, ông này vào khoảng tháng 8, sau khi no say lại nhập pḥng, qua ngày hôm sau phát đi lỵ, 1 ngày đi tiêu cả trăm lần, trắng đỏ lẫn lộn, trong bụng đau ngầm, tay chân lạnh. Xem mạch th́ thấy Hoăn, Đại vô lực, 2 bộ xích càng Nhược. Tôi nói, chứng này phải nên bổ và cho toa có vị Nhân Sâm, Nhục Quế. Các  con của người bệnh thấy  đều sợ hăi nói rằng không có tích trệ th́ không thành chứng lỵ, nay mới có 1-2 ngày mà đă dùng thuốc bổ sao? Bất đắc dĩ tôi mới cho uống bài Điều Khí  Dưỡng Vinh Thang nhưng bệnh t́nh cũng cho tăng hoặc  giảm. Hôm sau tôi xem lại, nói rằng phải nên dùng bổ gấp. Trong nhà  lại tranh căi và không chịu dùng, bệnh t́nh cũng không thuyên  giảm. Nhân dịp tôi có người mời, nên người nhà  người bệnh đi mời thầy thuốc khác. Thầy này cho uống các vị như Hoàng Cầm, Hoàng Liên, Tân Lang, Mộc Hương... th́ bụng đau dữ như cắt, chân lạnh như băng, ra mồ hôi lạnh, thiếu hơi không đủ thở, thức ăn ăn vào th́ đại tiện ra hết... Đến nửa đêm cho người nhà  đến mời tôi. Đến xem thấy người bệnh không tự xoay trở được, đại tiện như chảy máu, bệnh t́nh rất nguy hiểm, nhưng c̣n may là mạch và thần khí chưa tuyệt. Liền cho uống Nhân Sâm Phụ Tử Lư Trung Thang  (Bạch truật, Chích Thảo, Nhân Sâm, Can Khương, Phụ Tử)  thêm Nhục Quế. Uống 1 thang th́ bụng bớt đau, thêm mấy thang th́ chân ấm, đại tiện ngừng; Lại dùng đến 2 cân (1.280g) Nhân Sâm th́ mới khỏi, râu và tóc đều rụng “.

Y Án 6 Mạch Đều HOĂN.

(Trích trong ‘Lục Thị Tam Thế Y Nhiệm’).

“Lục Thiên Ngu chữa 1 người bệnh tên là Ngô Tồn Trai, người mập mà thường hay uống rượu,vị quản thường đau nay lại thấy  đau các khớp, nưả người phía dưới nặng hơn. Có thầy thuốc cho là  phong, cho dùng bài Sử Quốc Công Tửu, th́ lúc đau lúc bớt. Lại thấy lâu ngày không bớt, cho là do tinh huyết không đủ mà ra, lại cho dùng Hổ Trượng, Hà Xa... th́ chỗ đau lại sưng lên. Lúc đó mới mời tôi xem bệnh. Xem mạch th́ thấy 6 bộ đều Hoăn mà bộ quan lại hơi Huyền. Tôi liền nói rằng: Xem mạch th́ thấy đây là do đàm thấp, không thấy phong cũng chẳng thấy  hư. Thuốc chữa phong tuy không trừ thấp nhưng lại hành khí, v́ vậy có lúc bớt. Nếu cho là hư chứng rồi tự bổ tức là làm cho ủng trệ thêm, như vậy không nặng thêm sao được? Cách chữa, trước hết là dùng thuốc hoàn để thanh đờm tích ở trung cung, sau đó dùng thuốc thang để sơ hoăn kinh lạc bị ủng trệ th́ không những các khớp hết đau mà chứng đau ở vị quản cũng hết. Về thuốc hoàn, dùng Hà Thiên Khúc, Sơn Tra Nhục, Quất Hồng, Bạch Truật, Phục Linh, Chỉ Thực, Thần Khúc, Trúc Lịch. Dùng hồ làm hoàn. - Thuốc thang dùng : Thương Truật, Ư Dĩ Nhân, Bán Hạ, Nam Tinh, Bạch Giới Tử, Uy Linh Tiên, Chích Thảo, Thanh Mộc Hương, Tần Giao. Sắc thuốc xong rồi cho vào 1 chung rượu, uống lúc bụng hơi no. Sau 1 thời gian điều phục th́ khỏi bệnh”.

MẠCH HỌC

01. LỜI NÓI ĐẦU
02. CÁC KƯ HIỆU VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG SÁCH

ĐẠI CƯƠNG

A- ĐẠI CƯƠNG
B- LỊCH SỬ MẠCH HỌC.
C- CƠ CHẾ CỦA MẠCH
D- CÁC BỘ VỊ ĐỂ CHẨN MẠCH
E- PHƯƠNG PHÁP CHẨN MẠCH
F- PHÂN BIỆT MẠCH
G- QUAN HỆ GIỮA MẠCH VỚI NHÂN TỐ TRONG NGOÀI
H- PHÂN LOẠI MẠCH

NỘI DUNG MẠCH HỌC

MẠCH CÁCH
MẠCH HOĂN
MẠCH HOẠT
MẠCH HUYỀN.
MẠCH HƯ
MẠCH HỒNG
MẠCH KHÂU
MẠCH KHẨN
MẠCH KẾT
MẠCH LAO
MẠCH NHU
MẠCH NHƯỢC
MẠCH PHÙ
MẠCH PHỤ NỮ
MẠCH PHỤC
MẠCH SÁC
MẠCH SÁP
MẠCH THỰC
MẠCH TR̀
MẠCH TRƯỜNG
MẠCH TRẦM
MẠCH TẾ
MẠCH VI
MẠCH XÚC
MẠCH ĐOẢN
MẠCH ĐẠI

 


Back

Forward

 

YKHOANET

, In trang này   J

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Design by HT MEDSOFT
Xem trang tốt nhất ở độ rộng màn h́nh 1024 x 768 -- Tŕnh duyệt  Internet Explorer 5.0 trở về sau

http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/machhoc/htmdocs/MACH08.htm