YKHOANET


 

MẠCH HƯ

(   µê ¯ß   - EMPTY PULSE - POULS VIDE)

A- ĐẠI CƯƠNG

- Thiên ‘Chung Thỉ’ (L. Khu 9) ghi:”Mạch Đại như cũ mà không cứng là hư”.

-Sách ‘Mạch Quyết San Ngộ’ ghi : “Hư nghĩa là ở giữa bất túc,nhược mà không lực, v́ vậy gọi là Hư”.

- Sách ‘Y Biên’ ghi:”Hư là không Thực”.

B- H̀NH TƯỢNG MẠCH HƯ

- Chương ‘Mạch H́nh Trạng Chỉ Hạ Bí Quyết’ (M.Kinh) ghi:”Mạch Hư th́ Đại, Tŕ mà Nhuyễn, ấn xuống th́ không đủ mà rỗng”.

- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi:”Mạch Hư là tổng hợp 4 mạch Phù, Đại, Tŕ, Nhuyễn, ấn tay xuống không thấy có ǵ”.

-Sách ‘Ngoại Khoa Tinh Yếu’ ghi : “Mạch Hư, ấn vào không thấy, Tŕ, Đại mà Nhuyễn, đè tay xuống, nhấc tay lên đều thấy trống không”. 

- Sách ‘Trung Y Học Khái Luận ‘ ghi:”Mạch đi Phù, Tŕ mà Nhuyễn, ấn tay xuống không thấy”.

- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi:”Mạch Hư, 3 bộ mạch ấn nhẹ tay th́ vô lực, ấn nặng tay th́ mất”.

-Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học’ ghi : “Mạch Hư, cả 3 bộ, nhấc tay lên th́ không lực, ấn xuống th́ trống rỗng”.

H̀NH VẼ BIỂU DIỄN  MẠCH HƯ

- Sách ‘Mạch Chẩn’ biểu diễn h́nh vẽ mạch Hư như sau:

C- NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH MẠCH HƯ

- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi:”Khí không đủ để khua động huyết th́ mạch đến vô lực (hư)- Huyết không đủ để nuôi dương khí th́ mạch cũng Hư”.

-Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học’ giải thích : “Do khí hư không vận chuyển được huyết, mạch khí hư, huyết hư không thúc đẩy được huyết mạch, cho nên ấn tay xuống thấy trống rỗng. Do khí hư không thu liễm được nên mạch khí tràn ra ngoài. Huyết hư, khí không phù trợ được nên phù ra ngoài, v́ vậy bắt mạch thấy lớn mà nhuyễn”.     

D- MẠCH HƯ CHỦ BỆNH

- Thiên ‘Mạch Yếu Tinh Vi Luận‘ (T. Vấn 117) ghi:”Mạch của Vị mà Thực là trướng bụng, Hư th́ tiêu chảy - Mạch khí lúc đến nhanh, lúc đi chậm, trên Thực dưới Hư, sẽ mắc chứng quyết và bệnh ở đầu. Nếu mạch khí lúc đến chậm, lúc đi nhanh, trên Hư dưới Thực là chứng ác phong”.

- Thiên ‘Ngũ Tạng Sinh Thành Luận‘ (T. Vấn 10) ghi:”Mạch của Vị đến Đại mà Hư là có tích khí ở trong bụng, gọi là chứng quyết sán”.

- Thiên ‘Thông B́nh Hư Thực Luận‘ (T. Vấn 28) ghi:”Mạch khí ở bộ xích và thốn đều Hư th́ gọi là chứng trùng Hư - Bị chứng điên th́ mạch Hư Thực ra sao? Kỳ Bá đáp: Thấy mạch Hư th́ có thể chữa, thấy mạch Thực th́ chết”.

- Thiên ‘Đại Kỳ Luận ‘(T. Vấn 48) ghi:”Mạch của Can và Thận đều Hư th́ chết”.

- Thiên ‘Thích Chí Luận‘ (T. Vấn 53) ghi:”Mạch Thực th́ huyết thực, mạch Hư th́ huyết hư, đó là lẽ thường. Trái nghịch như trên là bệnh”.

- Chương ‘Thương Hàn Lệ’ (TH. Luận ) ghi:”Mạch Hư mà cơ thể sốt đó là do thương thử - Mạch ở bộ xích và thốn đều Hư, nóng không bớt th́ chết”.

- Chương ‘Đờm Ẩm Khái Thấu...Trị’ (KQY. Lược) ghi:”Ho đă lâu năm, thấy mạch Hư th́ thường chóng mặt, hoa mắt”.

- Chương ‘B́nh Tam Quan Bệnh Hậu Tịnh Nghi Trị’ (M. Kinh) ghi:”Mạch ở thốn khẩu Hư ắt sinh hàn ở Tỳ Vị, gây ra ăn không tiêu”.

- Chương ‘Âm Dương Thanh Trọc Tinh khí Tân Dịch Huyết Mạch’ (G. Ất) ghi:”Huyết thoát th́ sắc mặt trắng nhạt, mạch thoát th́ mạch rỗng Hư”.

- Chương ‘Kinh Mạch [phần Thượng] (G. Ất) ghi:”Hư th́ rỗng ở trong, đại tiện nát, hụt hơi, tiểu tiện đổi màu”.

- Sách ‘Hoàng Đế Nội Kinh Thái Tố’ ghi:”Mạch Hư là tiêu chảy, là đoạt huyết”.

- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi:”Mạch Hư là cơ thể sốt (do thương thử ), trống ngực hồi hộp, tự ra mồ hôi, phát nóng, âm hư. Mạch bộ thốn Hư là huyết không nuôi Tâm - Bộ quan Hư là bụng trướng, ăn không tiêu - Bộ xích Hư là nóng âm ỉ ở trong xương, chân tê bại, tinh huyết bị tổn thương”.

-Chương ‘Mạch Thần’ (CNT.Thư) ghi : “Mạch Hư chủ chính khí hư, không lực”.

- Sách ‘Trung Y Học Khái Luận’ ghi:”Mạch Hư chủ chứng  huyết hư, thương thử”.

- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi:”Mạch Hư chủ khí huyết đều hư”.

- Sách ‘Đông Y Lược Khảo’ ghi:”Phù chẩn thấy mạch Hư là huyết hư, trầm chẩn thấy mạch Hư là khí hư”.

- Sách ‘Định Ninh Tôi Học Mạch’ ghi:”Trẻ nhỏ thấy mạch Hư là có kinh phong, người mạnh khỏe có mạch Hư là bị thương thử”.

- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi:”Mạch Hư chủ khí và huyết đều hư, phế nuy, thương thử, mồ hôi ra nhiều, hồi hộp, chân mềm, ăn không tiêu”.

Tả Thốn HƯ

Hồi hộp.

Hữu Thốn HƯ

Khí suy, tự ra mồ hôi.

Tả Quan HƯ

Huyết không nuôi gân.

Hữu Quán HƯ

Hư trướng, ăn không tiêu.

Tả Xích HƯ

Thắt lưng đau, đầu gối tê bại.

Hữu Xích HƯ

Dương suy hoặc trầm hàn.

E- MẠCH HƯ KIÊM MẠCH BỆNH

- Thiên ‘Ngọc Cơ Chân Tạng Luận’ (T. Vấn 19) ghi: “Mạch chân tạng của Phế hiện ra th́ Đại mà Hư, như cầm sợi lông chim phết nhẹ vào da”.

- Chương ‘B́nh Mạch Pháp’ (TH. Luận) ghi: “Bệnh do phong th́ mạch phải Phù Hư”.

- Chương ‘Huyết Tư Hư Lao... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Đàn ông b́nh thường mà thấy mạch cực Hư là bị hư lao. Đàn ông mà mạch lại Hư, Trầm, Huyền, không nóng lạnh... là do hư lao gây ra. Đàn ông b́nh thường mà mạch Tế, Nhược, Vi th́ thường ra mồ hôi trộm”.

- Chương ‘Phế Nuy Phế Ung... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch Sác, Hư là chứng phế nuy”.

- Chương ‘Ngũ Tạng Phong Hàn... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch chân tạng của Phế hiện ra th́ Phù mà phải Hư, ấn tay xuống thấy mềm rỗng như cọng hành, ở dưới không có gốc th́  chết”.

- Chương ‘Biện Tam Bộ Cửu Hậu Mạch Chứng’ (M. Kinh) ghi:”Mạch ở bộ xích Hư Tiểu th́ cẳng chân lạnh, đau, tê, bại“.

- Chương ‘Châm Đạo Ngoại Sưu Tửng Xă’ (G. Ất) ghi:”Mạch Hoạt mà thịnh là bệnh đang tiến,- Mạch Hư mà Tế là bệnh đă lâu ngày”.

- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi:

·  Mạch Hư mà Phù là khí hư.

·  Hư mà Sáp là huyết hư .

·  Hư mà Sác là âm hư, phế nuy.

·  Hư mà Tŕ là dương hư .

·  Hư mà Nhuyễn là mồ hôi tự ra.

·  Hư mà Tiểu là chân đau, tê bại .

- Sách ‘Đông Y Lược Khảo’ ghi: ”Hư mà Sác là âm hư, Hư mà Tŕ là dương hư”.

- Sách ‘Định Ninh Tôi Học Mạch’ ghi: ”Mạch Hư mà Đại là nguyên khí và tinh huyết bị hao tổn v́ lao động quá sức. Hư mà Sáp là do pḥng lao quá làm cho Thận và khí huyết bị suy yếu”.

G- MẠCH HƯ VÀ ĐIỀU TRỊ

- Chương ‘Biện Thái Dương ...Trị’ ghi:”Thương hàn đă 8-9 ngày, phong thấp tương bác lẫn nhau v́ vậy cơ thể đau nhức, không thể tự ḿnh xoay trở được, không ói, không khát, mạch Phù Hư mà Cấp. Cho uống bài Quế Chi Phụ Tử Thang (Quế Chi. Bạch Thược, Phụ Tử, Cam Thảo, Sinh Khương, Táo). - Chương ‘Biện Quyết Âm ...Trị’ (TH. Luận) ghi:”Thương hàn đă 5-6 ngày, không bị kết hung, bụng mềm, mạch Hư, tay chân giá lạnh, không thể dùng phép hạ v́ đây là chứng vong huyết, nếu hạ th́ sẽ chết”.

- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi:”Gặp mạch Hư th́ phải dưỡng vinh ích khí ngay, không được chần chừ”.

- Sách ‘Chẩn Tông Tam Muội’ ghi:”Bệnh điên mà thấy mạch Hư th́ có thể chữa được, nên dùng phương pháp đại bổ. Nếu thấy mạch Thực, Đại mà do đờm kết tụ lâu ngày, dùng phép khu trục đờm không có hiệu quả th́ khó chữa”.

H- MẠCH HƯ QUA CÁC  LỜI BÀN

- Chương ‘Mạch Thần ‘ (CNT. Thư) ghi:”Mạch Hư là chính khí hư, là vô lực, vô thần (không có thần lực của mạch), có âm có dương. Phù mà vô lực là huyết hư, Trầm mà vô lực là khí hư, Sác mà vô lực là âm hư, Tŕ mà vô lực là dương hư. Tuy nói rằng mạch Vi, Nhu, Tŕ, Sáp là hư nhưng phải nói thêm rằng bất kể là mạch nào, nếu thấy vô thần, vô lực th́ đều là mạch Hư. V́ vậy, các mạch Hồng, Đại mà không có thần là âm hư, mạch Tế Tiểu mà không có thần là dương hư. Âm hư mà kim và thủy  bị hao tân (dịch), long lôi hỏa máy động v́ vậy bệnh về thần, hồn và ngũ dịch. Thí dụ như ra mồ hôi, di tinh, kinh sợ, hồi hộp hoặc ho suyễn, tiểu gắt, tiêu ra máu. Dương hư th́ hỏa và thổ bị tổn thương, chân khí suy kém v́ vậy bệnh ở quân hỏa, tráng hỏa và trung châu như là váng đầu, hoa mắt, vị quản đầy tức, nôn, ợ, vong dương, tiêu chảy, kiết lỵ, bụng đau. Muốn cứu âm th́ phải bổ gốc của hỏa. Thấy mạch khí vượng lên th́ sống, nếu thấy nhỏ dần th́ chết. Thấy mạch Hư mà không bổ th́ nguyên khí lấy ǵ mà hồi phục lại được? Đúng là cửa ải của sự sống chết vậy”.

- Chương ‘Sư Truyền Tam Thập Nhị Tắc’ (CTT. Muội) ghi: “Mạch Hư là triệu chứng của vinh huyết không đều. Vương-Thúc- Ḥa cho rằng mạch Tŕ, Đại mà Nhuyễn là Hư. Người bị khí hư, suyễn thở thường thấy mạch Hư, Đại mà Sác. Thế mà lại nói huyết hư th́ mạch Hư, đó là chẳng biết rằng Trương-Trọng-Cảnh đă có nói rằng: “Mạch Hư cả cơ thể nóng là do thương thử”. Lư-Đông-Viên cũng nói: “Mạch ở khí khẩu Đại mà Hư là nội thương vệ khí”. Nếu mạch Hư Đại mà Sáp th́ mới là nội thương ở phần vệ huyết. Phàm mạch của người huyết hư, nếu không thấy rơ là Sáp, Nhược cũng là Huyền, Tế, Khẩn, Tŕ. Như chứng thương thử thấy mạch Tŕ là khí hư, nếu thấy mạch Huyền, Tế, Khẩn, Tŕ là huyết hư. Người bệnh hư lao tất phải thấy mạch cực Hư mà Khâu, Tŕ hoặc bộ xích thấy Vi, Tiểu, Tế, đó là huyết mất tinh... Lúc đầu tuy b́nh thường mà lại thấy mạch Hư, Nhược, Vi, Tế th́ thường ra mồ hôi trộm. Xem trên đây th́ phân rơ được mạch Hư thuộc khí hư hoặc huyết hư vậy. Thân-Trai có nói: “Mạch Hồng Đại mà Hư th́ phải đề pḥng chứng bị tiêu chảy”. Nếu mạch Hư th́ phần nhiều là ở tỳ khí. Thấy kiêm mạch Đại là do khí bị hư, không thu liễm được. Kinh ghi: “Mạch khí ở bộ xích và thốn đều Hư th́ gọi là chứng trọng hư”. Bệnh ở trong mạch lại Hư th́ lại khó chữa. Trương-Trọng-Cảnh cũng nói: “Mạch Hư th́ không thể dụng phép thổ (làm cho ói ra). Bụng đầy mà mạch Hư, chân tay lạnh th́ không thể dùng phép hạ (xổ ra). Mạch ở bộ xích và thốn đều Hư mà nóng không giảm th́ chết, (các câu này) không thấy bệnh thực mà mạch lại Hư th́ đều khó chữa... Nếu cực Hư mà vị như gió thổi qua lông hoặc cực Hư mà Sác, bềnh bồng như mỡ nổi trên nước, đều là triệu chứng của Phế bị tuyệt”.

H- CÁC Y ÁN MẠCH HƯ

Y Án Mạch HƯ TẾ Vô Lực

(Trích trong ‘Trịnh Hạnh Hiên Y Án’).

 “Con của Phương Tụy Nham, bẩm sinh vốn đă yếu lại học hành quá sức nên tâm thần hao tổn. Lúc mới bệnh, thấy  hư hỏa bốc lên, sau đó bị hoạt tinh. Chẩn mạch thấy  Hư, Tế mà vô lực. Cho uống bài Lục Vị Địa Hoàng Hoàn (Đan B́, Sơn Thù, Thục Địa, Bạch Linh, Trạch Tả, Hoài Sơn ) nhưng bỏ bớt Bạch Linh và Trạch Tả đi, thêm Mạch Môn, Ngũ Vị Tử, Viễn Chí, Táo Nhân, Mẫu Lệ, Khiếm Thực. Uống mấy thang chưa có kết quả nên lại mời tôi đến, tôi mới nói rằng: đây là do Thủy Hỏa không giao nhau, làm sao mà có hiệu quả nhanh được? Dùng phương thuốc cũ thêm Long Cốt, Tật Lê, Liên Nhụy Tu, Tang Phiêu Tiêu. Đó là hợp với lư của ư:”Hoạt th́ phải Sáp”. Uống được 2 tuần th́ hư dương thu liễm lại mà tinh cũng bớt chảy ra. Nhưng v́ bệnh lâu ngày nên cơ thể gầy ốm biếng ăn, đó là do Tỳ Vị suy kém. Kinh có ghi:”Thận chủ thủy, nhận tinh của 5 tạng  6 phủ mà tàng giữ. Đó là tinh chứa ở Thận chứ không phải sinh ở Thận... C̣n phải bổ Tỳ Vị hậu thiên. Sáng cho uống bài Sâm Linh Bạch Truật Tán (Liên Tử Nhục, Ư Dĩ Nhân, Sa Nhân, Cát Cánh, Bạch Biển Đậu, Bạch Linh, Nhân Sâm, Chích Thảo, Bạch Truật, Sơn Dược), chiều th́ dùng phương thuốc cũ- Đó là phân ra Tỳ và Thận mà chữa. Ít lâu sau th́ khỏi “.

 Y Án Mạch HƯ TẾ Mà SÁP

(Trích trong ‘Trịnh Hạnh Hiên Y Án’).

 “Bà già họ Trịnh, tuổi đă hơn 70, bị táo bón, bụng đau, hậu môn sưng, ăn ngủ đều bỏ, bệnh đă hơn 2 tuần, chữa mà không có hiệu quả. Khi mời tôi đến, nói là phải dùng phép hạ. Tôi xem mạch thấy Hư mà Sáp mới nói rằng: ”Đây là chứng hư bế, dùng bài Bổ Trung Ích Khí (Hoàng Kỳ, Nhân Sâm, Chích Thảo,Bạch Truật, Trần B́, Đương Quy, Thăng Ma, Sài Hồ) là đủ, cần ǵ phải ha.ï Uống được 2 ngày đại tiện vẫn không thông. Người bệnh nói là ruột đau quá không thể chịu nổi, phải hạ ngay.Tôi nói rằng: Phép Hạ không phải là tôi không biết, nhưng v́ sợ rằng tuổi cao, chính khí đă hư hao, nếu dùng phép hạ tất chính khí phải thoát. Nếu bị trướng mà chết th́ sao bằng thoát mà chết nhanh hơn. Nghĩ rằng trong sách ‘Y Học Tâm Ngộ’ có ghi ‘Có chứng bệnh không thể hạ mà cũng có chứng bệnh không thể không hạ, nếu hạ không đúng phép ắt hại người‘. Tôi suy nghĩ giây lát rồi dùng phép cũ, thêm Đại Hoàng 12g, đó là phỏng theo ư ‘công ở trong bổ‘ của người xưa. Uống xong th́ bụng sôi lên rồi phát trung tiện, đến chiều th́ đại tiện ra được mấy cục phân cứng mới nằm yên được. Ngày hôm sau, thấy bụng dưới c̣n đau biết là phân chưa ra hết, dùng bài thuốc cũ, giảm bớt nửa liều Đại Hoàng. Uống xong th́ đi tiêu 2 lần, trước cứng sau lỏng, bụng hết đau, ăn được rồi khỏi“.

Y Án Mạch HƯ TẾ HOĂN

(Trích trong ‘Nội Khoa Học Của Thượng Hải’).

 “Lâm X, 49 tuổi,... Mắc bệnh đă hơn 8 năm, tái phát nhiều lần. Các năm 1958-1962 đă nằm viện 2 lần với chẩn đoán là bệnh tiểu đường. Điều trị bằng thuốc đặc hiệu nhưng ngừng thuốc bệnh lại tái phát, gần đây chứng trạng tiến triển, uống nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều, gầy ốm, da tróc vẩy, sắc mặt kém tươi, dáng vẻ thờ ơ, nhạt nhẽo, phản ứng chậm chạp, choáng váng, hoa mắt, tai ù, thị lực giảm, âm nang ẩm lạnh, rêu lưỡi trắng mỏng và trơn, chất lưỡi non nhạt. Mạch Hư Tế mà Hoăn.

Xét nghiệm: Lượng đường trong huyết: 290mg%, Lượng đường trong nước tiểu 4+. Tỷ trọng 1.038.

Chẩn đoán: Bệnh tiêu khát (tiểu đường).

Điều trị: Thục Địa 16g, Hoài Sơn 20g, Thiên Hoa Phấn 20g, Mạch Môn 12g, Nhục Quế 4g, Sơn Thù 12g, Đan B́ 12g, Thiên Môn 12g, Hoàng Kỳ (sống) 20g, Phụ Tử 8g, Sắc uống chung với Kim Qũy Thận Khí Hoàn (Thục Địa, Hoài Sơn,  Đan B́, Quế Chi, Sơn Thù, Phục Linh, Tạch Tả, Phụ Tử). Sau khi uống hết 24 tháng (2 năm), các chứng tạng tiêu trừ hết. Theo dơi thêm 12 tháng sau vẫn không tái phát. Kiểm tra lại lượng đường trong máu: 123mg%, lượng đường trong nước tiểu (-) (âm tính)”.

I- Mạch HƯ Và Các Mạch Khác

(Theo sách ‘Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu’).

Mạch Gốc Đặc điểm Tên Mạch Gốc H́nh Thái Mạch Hội Chứng Tương Ứng
 Loại

mạch

 (05 mạch)

 Chạm vào

ngón

tay

như

thiếu

sức,

không

sức.

Ấn tay xuống không thấy có ǵ, nâng tay lên thấy mạch yếu không có sức. Chứng hư, khí và huyết hư.
TẾ Nhỏ như sợi chỉ thấy rơ dưới tay. Hư chứng, lao tổn, âm hư, thấp.
VI Rất nhỏ, mềm như không có, mạch đập nghe không rơ. Hư chứng, dương suy. Bệnh nguy.
ĐẠI (ĐỢI) Mạch đập có lúc dừng như không thấy trở lại, chờ khá lâu mớùi thấy trở lại. Khí của tạng do sợ hăi gây ra tổn hại.
  ĐOẢN Đầu đuôi đều ngắn, thân mạch không thấy được dù ở mọi bộ vị. Không có sức, khí bị hư tổn.

Trần-Tu-Viên nhận định:

- Mạch Hư mà đi ngắn là mạch Đoản.

- Hư mà Phù,Tế là mạch Nhu.

- Hư mà Trầm Tế là mạch Nhược.

- Hư mà có sự ngăn trở là mạch Sắc.

- Hư mà qua lại không rơ gọi là mạch Vi.

     Vậy mạch Đoản, Nhu, Nhược, Sắc và Vi đều dựa vào mạch HƯ.

MẠCH HỌC

01. LỜI NÓI ĐẦU
02. CÁC KƯ HIỆU VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG SÁCH

ĐẠI CƯƠNG

A- ĐẠI CƯƠNG
B- LỊCH SỬ MẠCH HỌC.
C- CƠ CHẾ CỦA MẠCH
D- CÁC BỘ VỊ ĐỂ CHẨN MẠCH
E- PHƯƠNG PHÁP CHẨN MẠCH
F- PHÂN BIỆT MẠCH
G- QUAN HỆ GIỮA MẠCH VỚI NHÂN TỐ TRONG NGOÀI
H- PHÂN LOẠI MẠCH

NỘI DUNG MẠCH HỌC

MẠCH CÁCH
MẠCH HOĂN
MẠCH HOẠT
MẠCH HUYỀN.
MẠCH HƯ
MẠCH HỒNG
MẠCH KHÂU
MẠCH KHẨN
MẠCH KẾT
MẠCH LAO
MẠCH NHU
MẠCH NHƯỢC
MẠCH PHÙ
MẠCH PHỤ NỮ
MẠCH PHỤC
MẠCH SÁC
MẠCH SÁP
MẠCH THỰC
MẠCH TR̀
MẠCH TRƯỜNG
MẠCH TRẦM
MẠCH TẾ
MẠCH VI
MẠCH XÚC
MẠCH ĐOẢN
MẠCH ĐẠI

 


Back

Forward

 

YKHOANET

, In trang này   J

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Design by HT MEDSOFT
Xem trang tốt nhất ở độ rộng màn h́nh 1024 x 768 -- Tŕnh duyệt  Internet Explorer 5.0 trở về sau

http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/machhoc/htmdocs/MACH12.htm