Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - SÁCH Y HỌC CỔ TRUYỀN


.

NHĂN KHOA

I.Lịch sử

Nhăn khoa là một khoa chuyên biệt trong hệ thống Y học cổ truyền và được đặt thành một chuyên khoa từ đời nhà Tống (Trung Quốc 960 - 1276). Sau đó trên cơ sở này các thầy thuốc đă bổ sung dần dần qua các thời cho đến nay.

II.Sinh lư và sự cấu tạo của mắt

1)Theo Y học cổ truyền:

Theo Y học cổ truyền mắt là một bộ phận bên ngồi nhưng lại có  quan hệ với các tạng phủ bên trong (nội tạng).

* Liên hệ với Can:

+ Thiên ‘Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận’ (Tố Vấn 5) ghi: “Can chủ ở mắt… Khiếu của Can là mắt.”

+ Thiên ‘Ngũ Tạng Sinh Thành’ (Linh Khu 10) ghi: “Can thụ huyết nhi năng kiến"(Can nhận được huyết th́ nh́n thấy).

+ Thiên ‘Mạch Độ’ (Linh Khu 17) ghi: “Can khí thông  lên mắt, Can hồ th́ mắt có thể phân biệt được ngũ sắc”.

+ Thiên ‘Ngũ Duyệt Ngũ Sứ’ (Linh Khu 37) ghi:“Mắt là khí quan của Can”

* Liên hệ với Tâm:

- Tâm chủ huyết mạch, làm chuyển động huyết dịch trong mạch máu. Thiên ‘Ngũ Tạng Sinh Thành’ (Tố Vấn 10) ghi: “Các mạch đều thuộc về mắt”, 12 kinh mạch, khí huyết đều rĩt vào mắt.

- Tâm tàng thần. Thiên ‘Đại Hoặc Luận’ (Linh Khu 80) ghi: “Mắt là sứ của Tâm"(ư nói , người ta thấy sự vật do sự phối hợp với tâm thần.

* Liên hệ với Tỳ:

Tỳ là gốc của hậu thiên, chủ vận hố thuỷ cốc tinh vi. Trong sách ‘Lan Thất Bí Tàng’, Lư Đông Viên viết: “Tinh khí của ngũ tạng, lục phủ, tiếp thu từ Tỳ, lên trên rĩt vào mắt”. Tỳ hư yếu làm cho tinh khí của tạng phủ bất túc, không chuyển lên để rĩt vào mắt, v́ thế mắt mất sự nhu dưỡng nên nh́n không  rơ, v́ vậy, mắt và tạng Tỳ có  quan hệ mật thiết với nhau.

* Liên hệ với Phế:

Phế chủ khí, hô hấp . Do sự vận hố của Tỳ Vị mà tinh khí thuỷ cốc và sự hô hấp  của Phế kết hợp với nhau, khiến cho Tâm chuyển động, huyết được đưa đi khắp cơ thể, làm ấm và nuơi dưỡng tạng phủ, mắt nhờ đó mà nh́n thấy b́nh thường. Nếu Phế khí bất túc có  thể làm cho mắt bị mờ. Thiên ‘Quyết Khí’ (Linh Khu 30) ghi: “Khí thốt th́ mắt nh́n không  rơ”.

* Liên hệ với Thận:

Thận tàng tinh, nhận tinh khí của tạng phủ. Tinh giúp cho cơ thể hoạt động thiên ‘Đại Hoặc Luận’ (Linh Khu 80) ghi: “Mắt là tinh của tạng phủ. Nếu Thận tinh bất túc th́ hai mắt sẽ thiếu thần, nh́n không  rơ”. V́ vậy, mắt và Thận có  sự liên hệ với nhau.

Ngồi ra mắt cũng liên hệ với ngũ tạng lục phủ.

+ Thiên ‘Đại Hoặc Luận’ (LKhu 80) ghi:”Tinh khí của 5 Tạng, 6 Phủ đềuthông  lên kết tụ ở mắt"và chia ra như sau:

(Tinh của cốt (Thận) kết thành đồng tử (Thủy luân).

(Tinh của cân (Can) kết thành trịng đen (Phong luân).

(Tinh của huyết (Tâm) kết thành những tia máu (Huyết luân).

(Tinh của khí (Phế) kết thành trịng trắng (Khí luân).

(Tinh của cơ nhục (Tỳ) kết thành mi mắt (Nhục luân).

Việc đặt tên cho Ngũ luân này dựa vào sự quan hệ với nội tạng và căn cứ vào chức năng của mỗi tạng liên hệ, v́ theo YHCT: Tâm chủ huyết (Huyết luân), Thận chủ thủy (Thủy luân), Phế chủ khí (Khí luân), Can chủ phong (Phong luân), Tỳ chủ cơ nhục (Nhục luân).

+ Thiên ‘Tà Khí Tạng Phủ Bệnh H́nh’ (Linh Khu 4) ghi:"Huyết khí ở 12 kinh mạch và 365 đường lạc đều đi lên mặt mà chạy, vào những chỗ hở, thứ dương khí tinh hoa đó chạy vào mắt mà thành con ngươi”.

Như vậy giữa mắt và các tạng phủ, kinh lạc khí huyết cân mạch, xương thịt đều có  liên quan với nhau, do đó sự thịnh suy và bệnh biến của tạng phủ khí huyết đều ảnh hưởng đến cơng năng của mắt.

Ngũ luân là biểu tượïng h́nh, thể của mắt, xét theo gĩc độ bề ngồi, nhưng khí lực (sự khí hĩa) của mắt từ trong thông  ra th́ không  thể thấy được, và người xưa đă nghiên cứu t́m thấy 8 gĩc gọi là Bát Quách dựa theo sự vận hành của kinh lạc ứng với bộ vị Bát Quách (theo sách ‘Ngân Hải Tinh Vi’) như sau:

- Càn ở phương Tây Bắc, thông  với Phế và Đại trường, trên th́ vận hĩa khí thanh đi lên, dưới th́ đẩy (truyền tống) chất căïn bă ra ngồi v́ vậy gọi là Truyền Đạo Quách.

- Khảm ở chính Bắc, thông  với Thận và Bàng Quang. Thận là nơi tàng chứa và sinh ra tinh, do đó được gọi là Tinh Dịch Quách.

-Cấn ở Đông bắc, thông  với Mệnh môn  và Thượng Tiêu là nơi hội tụ các phần ẩm lưu chuyển ra trăm mạch v́ vậy gọi là Hội Âm Quách.

- Chấn ở chính Đông, thông  với Can – Đởm, chuyên vận chuyển các thứ thanh khiết nên gọi là Thanh Tịnh Quách.

- Tốn ở Đông Nam, thông  với Trung tiêu và lạc của Can, mà lạc của Can lại có  chức năng thông  huyết, dưỡng Trung tiêu và phân khí huyết để hĩa sinh do đó gọi là Dưỡng Hĩa Quách.

- Ly ở chính Nam, thông  với Tâm và Tiểu trường là nơi các phần dương hấp thụ khí v́ vậy gọi là Bảo Dương Quách.

 - Khơn ở Tây Nam, thông  với Tỳ Vị, chủ việc thu nạp thủy cốc để nuơi cơ thể, do đó gọi là Thủy Cốc Quách.

- Đồi ở chính Tây, thông  với Hạ tiêu và lạc của Thận, chủ về Âm tinh, là nguồn suối của cơ quan sinh hĩa, v́ vậy gọi là Quan Truyền Quách.

Việc chẩn bệnh ở mắt theo YHCT giữa Luân và Quách có  sự khác biệt:

+ Luân chỉ xem màu sắc (đỏ, xanh, tía…).

+ Quách th́ phân định kinh lạc ở trên Luân to hay nhỏ, cong, thẳng, đường mạch từ đâu xâm nhâïp vào năo bộ …

Mắt cũng là 1 vùng phản chiếu của cơ thể, do đó qua mắt có  thể biết được phần nào trạng thái rối loạn của cơ quan tạng phủ tương ứng.

Theo các cơng tŕnh nghiên cứu của Trung Quốc, mắt có  liên hệ với ngũ tạng như sau:

NGŨ TẠNG CƠ QUAN TƯƠNG ỨNG
Can Trịng Đen
Tâm Thịt 2 Bên Khoé Mắt
Tỳ Mi Mắt
Phế Trịng Trắng
Thận Con Ngươi

- Theo Nội Kinh: “Can khai khiếu ở mắt"do đó mắt có  màu đỏ, mắt sưng là dấu hiệu hỏa của Can vượng, mắt mọc thịt, có  mộng là dấu hiệu thổ của Can vượng...

- Theo Giáo sư Oshawa, những người có  mắt Tam Bạch Đản thường chết bất đắc kỳ tử (chết bất ngờ).

- Theo tạp chí Spounik số 9/1984, giáo sư Valkhover, đại học y khoa Lumunba, cho rằng: mống mắt cũng có  một vùng phản chiếu tương ứng của cơ thể. Theo ơng, tổn thương ở 1 cơ quan tạng phủ sẽ phát ra tín hiệu tạo thành xung động thần kinh qua dây thần kinh đến vùng phản chiếu tương ứng ở mống mắt, tạo nên ở mống mắt những vết nhiễm sắc nhạt và ánh sáng sẽ lọt qua nhiều hơn b́nh thường. Ở giai đoạn măn tính, những vết này sẽ có  màu sẫm nên nhu cầu về ánh sáng giảm bớt... Do đĩ, những thay đổi về màu sắc ở mống mắt sẽ cho biết về giai đoạn của quá tŕnh viêm nhiễm ở một cơ quan tạng phủ tương ứng nào đó tương ứng.

Màu sắc của mắt cũng rất quan trọng v́ mắt là nơi điều tiết ánh sáng: chỉ cho lọt vào mắt một lượng ánh sáng cần thiết. Những người mắt màu xanh cho ánh sáng qua nhiều hơn so với người mắt sẫm. Như vậy, nếu người có  cặp mắt lợt, rời bỏ khí hậu quen thuộc của ḿnh đang sống tức là vùng ít nắng để đi sống ở vùng nhiều nắng hơn sẽ dễ bị kích thích quá đáng, dễ gây ra co giật, huyết áp cao. Trái lại, người mắt đen, đang sống ở vùng nhiều ánh sáng, đi đến vùng ít nắng hơn, sẽ trở thành nhu nhược lười biếng mệt mỏi...

Qua thí nghiệm sự nhậy cảm ánh sáng của mắt, các nhà nghiên cứu nhận thấy: người có  giác mạc xanh nhạy cảm ánh sáng hơn người mắt nâu sẫm 3 lần và hơn giác mạc đen 4 lần. Như vậy có  thể dùng chỉ số này làm tiêu chuẩn để đánh giá sự nhạy cảm của tất cả cơ thể. Thí dụ: Muốn cho thuốc đem lại hiệu quả tốt trong việc điều trị, liều lượng thuốc đối với người mắt đậm có  thể phải nhiều và mạnh hơn so với người mắt lợt.

H́nh dáng của mắt có  1 vai trị trong sự điều hịa ánh sáng. Người ở vùng nhiều nắng, hay tiếp xúc với ánh nắng (cơng nhân lao động ở cơng trường...) trán thường trợt ra sau, vành xương chân mày lồi, mắt nhỏ và sâu. Ngược lại người ở vùng ít nắng. Ít tiếp xúc với ánh sáng (người bệnh nặng phải ở trong nhà, nơi ẩm thấp thiếu ánh sáng...) thường có  mặt bẹt, hốc mắt rộng và đơi mắt to.

Lơng mi và lơng mày cũng giúp điều tiết ánh sáng cho mắt, che bớt ánh sáng vào mắt, do đĩ, 1 cơ thể yếu, không  những sợ quá nhiều ánh sáng mà cịn không  chịu nổi lượng ánh sáng mà người khác coi là cần thiết, chính v́ thế họ có  lơng mi dài và nhiều.

2) Theo Y học hiện đại

Theo YHHĐ, mắt có  h́nh dạng giống trái cầu (nhăn cầu) chia làm 2 phần: ngồi và trong.

a- Phần ngồi gọi là vỏ nhăn cầu chia làm 3 lớp từ ngồi vào trong:

1 – Màng bảo vệ: Phía trước trong suốt gọi là giác mạc, phía sau gọi là củng mạc.

2 – Màng Bồ Đào gồm:

- Mống mắt (trịng đen): ở giữa có  lỗ nhỏ gọi là đồng tử. Mống mắt có  nhiệm vụ hạn chế các tia sáng của mạch từ ngồi vào trong, các sắc tố của Mống mắt hủy các tia sáng vào mắt, không  qua đồng tử.

- Thể mi: Nối tiếp với Mống mắt phía trước và liên tục với mạch lạc phía sau. Nhiệm vụ của Thể mi là tiết ra tinh dịch. Trong Thể mi cịn có  cơ mi co kéo vào dây chằng- kinh, do đó tham gia vào sự điều tiết của mắt khi mắt nh́n gần.

- Mạch (Hắc) mạc: Màng nuơi dưỡng nhăn cầu và nhờ có  sắc tố mạch mạc biến nhăn cầu thành 1 buồng tối, tạo điều kiện cho h́nh của vật hiện rơ trên vơng mạc.

3 – Vơng mạc: giúp mắt nhận thức được ánh sáng phân biệt được h́nh thù và màu sắc.

4 – Thủy dịch: chất dưỡng nuơi dưỡng các bộ phận không  có  mạch máu(giác mạc, thủy tinh thể) và tham gia vào sự điều hịa nhăn áp …

5 – Thể thủy tinh và Thể pha lê: chuyển các tia sáng từ ngồi vào vơng mạc.

 Gần đây trong tạp chí Spounik số 9/1984 giáo sưValkhover và trong “Les Micros Systemes des Acupunctaires”, GS Bossy đă nêu lên sự tương quan giữa mống mắt và các cơ quan nội tạng (theo kiểu hệ phản chiếu, theo phương pháp này th́ tổn thương ở một cơ quan tạng phủ sẽ phát ra tín hiệu tạo thành xung động (Thần kinh qua dây thần kinh đến vùng phản chiếu ở mống mắt, tạo nên ở mống mắt những vết nhiễm sắc nhạt và ánh sáng sẽ lọt qua nhiều hơn b́nh thường. Và ở giai đoạn mạn tính những vết này sẽ có  màu xám, do đó nhu cầu về ánh sáng sẽ giảm bớt, và những thay đổi về màu sắc ở mống mắt sẽ cho biết về giai đọan của quá tŕnh viêm nhiễm của 1 cơ quan tạng phủ nào đó tương ứng (xin xem h́nh tương quan giữa mống mắt và các cơ quan tạng phủ).

3) Nguyên tắc chẩn đốn ở mắt

Bệnh ở mắt có  rất nhiều, tuy nhiên quy lại trong 2 phương diện Nội chướng và Ngoại chướng.

a- Ngoại chướng: Gồm bệnh ở các bộ phận mi mắt, lơng mi, khĩe mắt, trịng trắng, trịng đen.

Nguyên nhân gây ra ngoại chướng thườøng do ngoại cảm tà khí hoặc bên trong có  thấp nhiêït thực trệ, hỏa uất. Chứng trạng lâm sàng thường gặp: Mắt đỏ, mắt sưng, mắt đau, chĩi, chảy nước mắt, nhiều dử (ghèn), mộng thịt che con ngươi, trịng đen có  mây che kèm đau đầu, sợ rét, phát sốt, bụng đầy không  muốn ăn… thường là trạng thái hàn nhiệt hữu dư.

 b- Nội chướng: gồm các bệnh ở Thủy luân (thể thủy tinh, thể pha lê), vơng mạc, đồng tử.

Thường do nội thương, thất t́nh, uống nhiều rượu, dâm dục quá độ.

Trên lâm sàng thường thấy: đồng tử mất b́nh thường, ở trong đồng tử sinh ra mây, màng, mắt nh́n tối mờ.

Cách chung: Nội chướng thường do tinh khí suy yếu, hư ở trong.

Bệnh về mắt theo YHCT được ghi chép và phân ra nhiều loại. Sách ‘Thế Y Đắc Hiệu Phương’ chia ra 23 chứng nội chướng, 45 chứng ngoại chướng. Sách ‘Chứng Trị Chuẩn Thằng’ lại chia ra 160 chứng….

Trong tài liệu này chứng tơi chỉ giới thiệumột số bệnh thường gặp thơi.

4 – Một số điểm cần chú ư khi chữa bệnh mắt

- Nh́n tổng quát để đánh giá trạng thái bệnh lư, biểu hiện bệnh lư.

- TD:Lẹo chắp ở mi mắt có  thể nghĩ đến:

+ Viêm mi mắt theo YHHĐ.

+ Bệnh ở Tỳ Vị (theo YHCT mi mắt thuộc Tỳ)…

- Cần để ư đến 1 số điểm đặc biệt:

a- Đau nhức khĩ chịu trong mắt

 (Đau ở một vị trí nhất định, tăng lên khi mắt hoặc mi mắt, có  thể là do dị vật.

 (Đau nhức mắt dữ dội kèm theo muốn ĩi, nghĩ đến nhăn áp cao (Glơcơm).

 (Đau chỉ ở mắt: có  thể là do Mi mắt viêm (thấp nhiệt ở Tỳ), Kết mạc viêm (thấp nhiệt ở Phế) hoặc do mắt quá căng (đọc sách nh́n tập trung quá lâu…)

 (Đau nhức + đỏ phần nhiều thuộc về phong nhiệt, Biểu chứng. Đau nhức mà không  đỏ phần nhiều thuộc về Hỏa ở Can, Thận thuộc Lư chứng.

 (Đau vào buổi sáng do dương hư Âm thịnh, đau vào buổi chiều do Âm hư dương thịnh.

b- Mắt Đỏ

+ Nếu hai mi mắt đỏ, sưng, đau đa số thuộc về thực nhiệt ở biểu, do phong nhiệt ở kinh Tỳ gây nên.

+ Ngồi vành mi hoặc trong mi mắt đỏ tươi, lở loét, thường là thực nhiệt ở lư, do thấp nhiệt ở Tỳ kinh bốc lên.

+ Trịng trắng đột nhiên đỏ, sưng, đau có  nhiều tia máu ở đáy mắt, thường do phong nhiệt ở Phế kinh bốc lên.

+ Nếu đỏ, loét, dử nhiều như nước mủ là do phong nhiệt hợp với thấp, thuộc thực nhiệt ở Biểu của kinh Phế.

+ Hai khĩe mắt đỏ như máu, thuộc thực nhiệt, do hỏa của Tâm bốc lên.

+ Trịng trắng ít tia máu, mắt khi th́ đỏ nhiều, lúc đỏ ít, kéo dài không  khỏi, thường do phần lư bị hư, do hư hỏa ở Tâm và Phế bốc lên.

+ Chung quanh trịng đen có  mầu đỏ sẫm, hoặc trịng trắng biến thành sắc xanh lam, do uất hỏa ở Can và Thận bốc lên.

c- Chĩ mắt gặp ở những người

¨Giác mạc viêm, có  dị vật ở giác mạc (Phong nhiệt).

¨Thần kinh suy nhược (Can, Thận hư).

¨Thiếu sắc tố ở mống mắt và hắc mạc mắt (Can, Thận hư).

d- Ngứa

v Do dị ứng, nhiễm khuẩn. Do Can hư phong nhiệt cơng phá ở trên.

v Ngứa, đa số do hư hàn

v Nếu gặp giĩ mà ngứa phần nhiều là do Can kinh hư hàn.

e- Dử (ghèn)

Do nước mắt ứ lại gây ra (thườøng thấy lúc mắt sưng đỏ, phần nhiều do thực nhiệt, nhiễm khuẩn).

Dử ra như mủ, rất dễ gây màng, mộng ở trịng đen.

Dử mắt đọng lại ở 2 khĩe mắt do phế bị tà nhiệt.

f- Nước mắt

+ Chảy nhiều trong kết mạc và giác mạc bị viêm, lệ đạo bị tắc, thể phong nhiệt.

+ không  đỏ, không  đau mà gặp giĩ lại chảy nước mắt ra, đó là nước mắt lạnh, thường phát ra ở chứng Hư Hàn v́ Can kinh bị hư tổn.

+ Nước mắt bị suy giảm thường làm cho 2 mắt trở nên khơ đó là v́ tinh khí của Can Thận bị suy kém không  dồn lên trên được.

g- Rối loạn thị giác: Biến đổi màu sắc, loạn sắc do tổn thương hắc vơng mạc, biến đổi ở thể Thủy tinh, thường do Can Thận hư.

h- Lĩa mắt: Nh́n nguồn sáng thấy cầu vồng nhiều màu, trong chứng Nhăn áp cao (Glơ cơm).

i- Xuất hiện vật lạ chơi vơi trong mắt như ruồi bay hoặc như màng mây che phủ, gặp trong các chứng Đục thủy tinh thể (ngũ phong nội chướng), Thủy tinh thể chơi vơi (Hắc châu ế, Giải t́nh ế), hoặc phủ giác mạc do viêm.

k- Giảm thị lực khi thiếu ánh sáng, trong chứng Quáng gà do thiếu sinh tố A, dây thần kinh thị giác teo (Can Thận hư).

l- Màng

+ Là bệnh ở lịng đen.

+ Màng mây thường bọc hết khắp lịng đen.

+ Màng lốm đốm: có những điểm hoặc như đường dây hoặc như từng khối nhỏ.

+ Màng lốm đốm.

5) Chăm sóc mắt:

Chăm sóc mắt tích cực và đúng mức, có  thể tránh được một số tai biến hoặc di chứng có  thể dẫn đến hư hỏng mắt.

- Bẩm sinh: cận thị, viễn thị, loạn thị, loạn sắc.

- Hậu thị: lăo thị

Các chứng này được điều chỉnh bằng loại kính thích hợp.

- Gây khiếm thị hoặc mù lịa: Tăng nhăn áp, cườm, đục nhân mắt, bong vơng mạc…nên chữa càng sớm càng tốt.

- Những bệnh viêm các thành phần: Viêm loét giác mạc, bồ đào viêm, viêm kết mạc do vi khuẩn (lậu) hoặc siêu khuẩn, mắt đỏ cấp tính, APC, Herpes… đều có  thể làm hư mắt, v́ thế nên chữa ngay từ lúc mới phát.

- Trẻ nhỏ mới sinh nên nhỏ ngay dung dịch Nitrat Bạc 1% hoặc Penicilline để ngừa khuẩn lậu (lúc chui qua âm đạo)

- không  dùng khăn chung với người đang có  bệnh, tránh được đau mắt hột và đau mắt cấp tính.

- Lao động ngồi trời nên đeo kính mát để không  gây hại mắt, đồng thời tránh được dị vật vào mắt (Thĩc, lúa…) gây loét giác mạc.

- không  bắt mắt làm việc tập trung quá lâu hoặc xem sách ở nơi không  đủ ánh sáng, để tránh cận thị, mỏi mắt.

+ Nên xem vơ tuyến truyền h́nh cách xa 3,5m trong phịng có  ánh sáng vừa đủ.

- Các loại sinh tố: A cần thiết cho giác mạc, vơng mạc thiếu sinh tố A sẽ dễ gây bệnh khơ mắt và quáng gà

(Sinh tố B1, B2, B6, B12 cần thiết cho thần kinh thị giác (B2 cho giác mạc, B6 cho mạch máu vơng mạc). Thiếu sinh tố B gây mờ mắt do thần kinh thị giác viêm.

(Sinh tố C làm bền vững mạch máu ở kết mạc, vơng mạc cần thiết cho thể Thủy tinh.

Các loại sinh tố trên có  nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, gan, dầu mỡ, hoa quả, rau tươi, ngũ cốc…v́ vậy một chế độ ăn đầy đủ và hài hịa sẽ cung cấp đủ các sinh tố cần thiết cho cơ thể và mắt.

- Một số thuốc có  thể gây hại cho mắt.

(Dùng quá nhiều kư ninh (Quinin) có  thể gây co thắt mạch máu đáy mắt.

(Nhỏ thuốc mắt loại có  chất Corticoide (Dexacol…) làm bệnh mắt hột và vết loét giác mạc nặng hơn, nếu nhỏ lâu có  thể gây bệnh Glơcơm cấp, đục thủy tinh thể.

(Thuốc Ethambutol (Myambutol) dùng lâu ngày có  thể gây mờ mắt.

SÁCH Y HỌC

 

BỆNH VỀ MẮT
BỆNH VỀ TAI - MŨI - HỌNG
NHỮNG BÀI THUỐC HAY VỀ MẮT
NHỮNG BÀI THUỐC HAY VỀ TAI
THUỐC BỔ THẬN
 

YKHOANET


, In trang này   J

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Design by HT MEDSOFT

C
Xem trang tốt nhất ở độ rộng màn h́nh 1024 x 768 -- Tŕnh duyệt  Internet Explorer 5.0 trở về sau