10. Lỵ trực khuẩn mạn tính
Biện chứng đông y: Thấp nhiệt ẩn náu lâu ngày, lưu trệ đại
tràng.
Cách trị: Điềuhòa khí huyết, tiết nhiệt đạo trệ, giải độc chỉ
lỵ, kiện tỳ trợ thận.
Đơn thuốc: Thược dược thang gia giảm.
Công thức: Đương quy 50g, Bạch thược 50g, Binh lang 15g, Chỉ xác 15g,
Lai phụ tử 10g, Cam thảo 5g, Tửu quân 7,5g, Nhục quế 5g. Sắc uống mỗi ngày 1
thang.
Hiệu quả lâm sàng: Viên XX, nam, 38 tuổi, công nhân đến khám tháng
9-1973, kể là đi lỵ, ỉa ra máu mủ đã 9 nǎm. Từ tháng 7-1964 bệnh nhân mắc
bệnh lỵ, vào 1 bệnh viện dùng syntomycin, đã khỏi, sau khi ra viện thường bị
lại, miệng khát, sức yếu, đi ngoài đau mót rặn, phân có máu mủ, mỗi ngày
hơn 20 bận, về sau dường như nǎm nào cũng vào viện 1 lần, bệnh thường phát
vào mùa hè. Nǎm 1968 sau khi ở bộ đội về bệnh càng nặng thêm, thường thì
đại tiện có máu mủ bất kể mùa đông hay hè, lúc nặng lúc nhẹ, đã dùng
nhiều thứ thuốc mà không khỏi. Chứng bệnh hiện nay đau bụng, mót rặn phân
có máu mủ, mỗi ngày hơn chục bận, không sốt. Kiểm tra thấy tình trạng chung
còn tốt, lưỡi đỏ rêu vàng mỏng, mạch hoãn vô lực, bụng mềm, không có ấn
đau và u cục, không sờ thấy gan lách. Xếp vào loại cửu lỵ, nên trị bằng
phép điều hòa khí huyết, tiết nhiệt thông trệ, thêm các vị ôn dương. Uống
"Thược dược thang gia giảm" được 3 thang thì bớt đau bụng, bớt mót
rặn, bớt số lần đi ngoài, uống được 6 thang thì hết hẳn đau bụng, hết mót
rặn, vẫn còn đôi chút máu mủ trong phân, lại uống 3 thang nữa thì khỏi hẳn.
Hai nǎm sau khám lại không thấy tái phát.
Bàn luận: "Thược dược thang gia giảm" là 1 thang xuất phát
từ Thược dược thang có thêm bớt, thích hợp với cửu lỵ, thấp nhiệt không
nặng, nhưng thiên về khí không điều hòa, thận dương không đủ, hiệu quả
lâm sàng rất tốt. Nếu phân lỏng có thể thêm Xa tiền. Lỵ trực khuẩn mạn
tính là thuộc về nhiệt lỵ, do lúc mới mắc chữa không đến nơi đến chốn,
tà khí lưu trệ ở đại tràng, gây nên thấp nhiệt nung nấu, khí huyết bị tổn
thương, cáu bẩn không tẩy sạch, hóa thành phân có mủ, thanh dương không
lên được, trọc âm không trừ được, thịt mới không mọc, cho nên thường đi
ngoài ra máu mủ. Khí huyết không thông, đường chuyển vận bị hỏng mà sinh
đau bụng mót rặn, cửu lỵ ắt tổn thương đến dương của tỳ vị. lý Trung Tử
nói: "Thận là cửa ngõ của vị khai khiếu ở hai âm, người chưa bị cửu
lỵ thì thận không bị tổn hại, vì vậy trị lỵ mà không biết bổ thận thì
chẳng phải là chữa lỵ". Cho nên khi chữa lỵ lâu ngày thì ngoài việc
điều hòa khí huyết, thông tích trệ, còn cần phải ổn bổ thận dương, nhất
thiết không được dùng vị khổ hàn để công phạt nó. Bài này dùng Qui,
Thược để hòa dinh dưỡng huyết; Binh lang, Chỉ xác để hành khí đạo trệ,
Lai phục tử để hành khí giải độc và cầm lỵ, Tửu đại hoàng thì tiết
nhiệt thông phủ, Cam thảo để hòa trung kiện tỳ, Nhục quế để ổn thận trợ
dương làm ấm hàn. Tất cả cùng điều hòa khí huyết, tiết nhiệt đạo trệ
giải độc chỉ lỵ, kiện tỳ trợ dương, tất nhiên sẽ kết quả.
|