34. Bệnh đái tháo đường
Biện chứng đông y: Tì âm không đủ.
Cách trị: Tư âm thanh nhiệt, sinh nhuận, chống khát.
Đơn thuốc: Trị tiêu chỉ khát thang.
Công thức: Sinh địa 30g, Hoài sơn 30g, Thiên hoa phấn 20g, Thạch hộc
20g, Tri mẫu 20g, Sa sâm 15g, Mạch đông 15g, Trạch tả 12g, Ngũ vị tử 6g. Sắc
uống, mỗi ngày 1 thang. Nếu thấy rất đói và khát thêm: Thạch cao (sống),
Hoàng liên; nếu khí hư nặng thêm Nhân sâm, Hoàng kì; âm tổn cập dương thì
thêm Phụ phiến, Nhục quế.
Hiệu quả lâm sàng: Dương XX, nam, 50 tuổi, cán bộ, khát nước, uống
nhiều, mỗi ngày uống đến 6 bình nước. Ǎn nhiều, chóng đói mỗi ngày ǎn
1,2kg gạo, nhiều nước tiểu, uống bao nhiêu đi tiểu bấy nhiêu. Bệnh đã hơn
một nǎm. Thể trọng giảm 12kg so với trước khi bị bệnh. Đầu váng, hụt sức,
không thể tiếp tục làm việc được, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng màu vàng
mạch tế sác. Xét nghiệm: đường niệu (+++). Đã điều trị bằng thuốc tây
D860 và insulin, đồng thời hạn chế thức ǎn có đường, nhưng bệnh chỉ đỡ
tạm thời, ngừng thuốc lại phát. Vì thế phải tìm đến đông y cho bài
"Tri tiêu chỉ khát thang". Uống gần 40 thang. Kiểm tra đường niệu (+),
ǎn uống trở lại bình thường, tiếp tục đi làm. Khuyên bệnh nhân mỗi ngày
nấu Sinh địa, Hoài sơn mỗi thứ 50g để ǎn, kiên trì trong hơn tháng để
củng cố hiệu quả điều trị. Về sau hỏi lại, không thấy tái phát bệnh.
Bàn luận: Trương Tích Thuần cho rằng chứng tiêu khát là do tì âm
không đủ gây nên. Lại bảo Sinh địa, Hoài sơn dược đại bổ tì âm, nên
bài thuốc trên trọng dụng chúng. Thiên hoa phấn tiêu nhiệt tốt cho thượng
tiêu, trung tiêu mà lại chống khát. Thạch hộc giáng hòa cho trung tiêu mà ích
vị. Tri mẫu làm cứng âm cho hạ tiêu mà trừ nhiệt. Sa sâm, Mạch đông để
trị phế vị. Trạch tả lợi thủy, dẫn nhiệt trọc. Ngũ vị tử liễm âm mà sinh
tân. Nghiên cứu dược lý hiện đại cũng cho rằng các vị thuốc Địa hoàng,
Hoài sơn dược, Trạch tả, Nhân sâm ở các mức độ khác nhau đều có tác
dụng giảm đường huyết. Bởi vậy phối hợp như trên đã thu được hiệu quả
tốt.