Y ÁN


.

72- NGHỊCH    KINH

(Trích trong ‘Tạp Chí Đông Y, số 179’, Y án của LY.  Nguyễn Như Lệ, Việt Nam).

Bùi Thị Hoàn Tr, 32 tuổi, nhập viện  ngày 7- 9 - 1962, từ năm 1950, bị sốt rét kinh niên, và  thường xuyên  nhức đầu, thỉnh thoảng độ 6 tháng hoặc 1 năm, cứ đến kỳ hành kinh lại ho ra máu 1 lần. Người ngày càng gầy, da vàng đen và xám lại, sức ngày càng yếu, chữa Tây y nhiều lần nhưng sức khỏe vẫn không hồi phục. Khoảng tháng 10 năm 1961, sau một trận bệnh nặng, sức khỏe lại yếu hơn, lại mắc thêm những triệu chứng mới: phía sau cổ và một bên mặt phía phải, có cảm giác nóng như xoa cồn và  nặng lên, có cảm giác b́ b́ khó chịu. Sau đó, cứ mỗi tháng đến kỳ hành kinh lại ho ra máu, không ăn ngủ được, chóng mặt, đau đầu  lại tăng, thường bị lợm giọng buồn nôn, người gầy hẳn đi, mặt ngày càng  vàng, da xám thêm. Đă điều trị nhiều nơi nhưng không bệnh viện  nào kết luận được nguyên nhân gây ra bệnh. Các bác sĩ chuyên gia ghi: “Một loại bệnh đặc biệt chưa hề thấy". Cơ thể ngày một suy nhược dần, đến kỳ hành kinh bị  ho ra rnáu, bệnh nhức đầu tăng lên và chuyển sang trạng thái mới: tức bộ năo, tức hai bên mang tai bốc lên đầu, lên mặt, suốt ngày đầu bị nặng, choáng váng và  bị nhức buốt, có lúc bị nhức như người bị treo ngược 2 bàn chân trở lên. Qua một thời gian quá dài, phải ngồi mà ngủ, v́ đặt đầu xuống gối th́ đầu bị đau và tức, không nằm được.

Khám thấy: Da sạm đen bẩn, sắc vàng, quầng mắt sâu thâm, tṛng trắng mắt màu vàng, môi thâm, lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, h́nh thái lờ đờ mỏi mệt, tiếng nói  nhỏ yếu, đứt hơi, nói nhiều th́ mệt, hơi thở ra nóng. Đầu đau, mắt hoa, chóng mặt, cổ khô, tức hai bên tai chằng lên đầu, lên mặt, mặt phía bên phải hơi nặng, cảm thấy nóng và b́ b́, mỗi lần hành kinh lại ho ra máu  ước gần 60 ml. Khi hành kinh người gai sốt, âm đạo ra huyết cục, huyết ḥn, ăn ngủ kém, đại tiện táo, tiểu tiện vàng, người rất suy yếu,  mệt mỏi. Mạch đập 76 lần /phút, 6 bộ mạch đều Trầm, Huyền, Hoăn, khám bụng không có ǵ đặc biệt.

Tôi nhận xét như sau: Bị sốt kéo dài ảnh hưởng đến Can v́ sốt rét không rời khỏi kinh Thiếu dương Đởm (Đởm, Tam tiêu), Đởm và Can có quan hệ biểu lư. Can âm suy yếu, Can hỏa bốc lên gây ra chứng đau đầu thường xuyên. Nữ chủ huyết, Lấy Can làm căn bản. Can lại chủ bào cung (tử cung), v́ Can âm hư, Can dương vượng sẵn, do đó, khi hành kinh, Can khí phải hưng phấn để thúc đẩy huyết ra ngoài, khi đó, Can mộc vượng quá th́ phản vũ Phế kim làm tổn thương dương lạc gây nên ho ra máu. Nhưng thời gian này chắc Can chưa bị tổn thương nhiều v́ vậy sáu tháng hoặc một năm mới có một kỳ. Khi hành kinh bị gai sốt chứng tỏ khí huyết suy yếu, âm dương không hài ḥa. Sau đó hơn mười năm qua một trận ốm nặng, người suy sụp nhiều. Chẳng những ho ra máu phát triển mạnh kèm với hàng tháng hành kinh một lần mà kinh nguyệt ra bên dưới đường âm đạo th́ là máu ḥn, máu cục. C̣n thêm các chứng mới như sau cổ và bên mặt phía phải có sức nóng như xoa cồn, mặt nặng thêm lên và có cảm giác b́ b́ khó chịu, chứng tỏ Can huyết suy nhiều đă ảnh hưởng đến Thận (Can mộc đoạt khí của Mẹ – Thận  thủy), gây ra nóng sau cổ (đường đi của mạch Đốc thuộc Thận), nóng lên mặt phía phải, nặng thêm và b́ b́ (khí vượng nên bệnh ở bên phải v́ bên hữu (phải) thuộc khí). Da sạm đen, mắt quần sâu, môi thâm, lưỡi đỏ nhạt là v́ tinh huyết suy kém, da ẩn sắc vàng, mắt hơi vàng là v́ Tỳ thổ bị Can mộc khắc. Tiếng nói đứt hơi, nói  nhiều mệt là do  Phế kim bị Can mộc phản vũ. Hơi thở ra nóng, cổ khô là Can Đởm hỏa chứng, đại tiện táo, tiểu vàng đều là nội tạng thiên về nhiệt. Mạch Trầm là mạch uất v́ sách ghi: “Chư uất mạch giai Trầm” (mọi chứng uất mạch đều Trầm). Ở đây là Can khí uất kết (nghịch), Huyền là mạch của Can Đởm. Trường hợp này bệnh nhiệt mà mạch lại không Sác mà Hoăn, có lẽ v́ thấp tà trở trệ.

Cách trị: phải bổ huyết, b́nh Can, lợi Đởm, thanh nhiệt, phù Thận, dưỡng âm, thanh Phế, nhuận táo.

C̣n chứng phong thấp, tôi nghĩ nên xử lư sau.

Cho dùng bài ‘Tiểu Sài Hồ Thang Gia Vị’:

Huyền sâm   20g         Cúc hoa        12g
Hoàng cầm   10g         Tử uyển         12g
Sài hồ           8g           Bán hạ          12g
Bạch thược   16g         Sinh khương  6g
Mạn kinh      10g         Đại táo         12g
Cam thảo      4g

(Đây là bài Tiểu Sài Hồ Thang bỏ Nhân sâm, thêm Huyền sâm, Bạch thược, Mạn kinh, Cúc hoa, Tử uyển).

Uống 4 thang, mạch c̣n Trầm, Huyền, Hoăn nhưng cảm thấy dễ chịu hơn, sức nóng trong người bớt  ít, hết  buồn  nôn, c̣n tức tuyến mang tai, nhức đầu, hoa mắt, mỏi buốt chân tay, ăn tiến bộ  hơn, ngủ c̣n kém, đại tiện c̣n táo, tiểu vàng. Tôi nghĩ cần  tăng cường thuốc bổ âm, dùng thang trên, thêm Sinh địa 16g. Uống 20 thang th́ mạch Hoăn, đới Huyền, chuyển sang mạch Hoăn, hành kinh không ho ra máu, kinh ra được nhiều huyết ḥn, huyết cục đen. Đau đầu  c̣n  ít  ở phía phải, mắt bên phải c̣n hơi nóng, lợm giọng c̣n  ít, ăn ngủ thường, đại tiện c̣n táo, tiểu  tiện thường, tức tuyến mang tai c̣n  ít. Dùng thang trên, thêm Đại phú b́ 12g để chữa nặng mặt. Uống 15 thang th́ mạch Hoăn, khi hành kinh không nôn và ho ra máu  nữa, khỏi hẳn chứng tức tuyến mang tai, c̣n hơi nặng mặt phía bên phải và hơi nhức đầu phía phải, ăn ngủ b́nh thường, đại tiện c̣n hơi táo, tiểu  vàng, da đỡ ẩn vàng. Tôi nghĩ nên thêm Tần giao để chữa phong thấp. Uống 38 thang th́ mạch Hoăn, các chứng khỏi hẳn, c̣n hơi chóng mặt. Tôi chuyển sang chữa bệnh phong thấp bằng bài Dưỡng Huyết Khu Phong Gia Giảm:

Huyền sâm           20g Tần giao       12g
Xuyên  quy           10g Sinh địa 20g
Ư dĩ      20g Cúc hoa        10g
Xuyên khung        8g           Bạch thược   16g
Độc hoạt              12g Mạn kinh      10g

và 500g Hổ Tiềm Hoàn để bổ gân xương. Sau đó khỏi hẳn.

Mục lục
Y ÁN

LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU
Y ÁN VỀ HỆ HÔ HẤP
Y ÁN VỀ MẮT
Y ÁN VỀ NAM KHOA
Y ÁN VỀ NHIỆT
Y ÁN VỀ PHỤ KHOA
Y ÁN VỀ TAI - MŨI - HỌNG
Y ÁN VỀ TIM MẠCH
Y ÁN VỀ TIÊU HOÁ
Y ÁN VỀ TIẾT NIỆU
Y ÁN VỀ TRÚNG GIÓ
 
Back

Forward


YKHOANET

, In trang này   J

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Design by HT MEDSOFT

C
Xem trang tốt nhất ở độ rộng màn h́nh 1024 x 768 -- Tŕnh duyệt  Internet Explorer 5.0 trở về sau

http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/yan/PHUKHOA/72-NGHICHKINH.htm