Y ÁN


.

83- RONG KINH  LOẠN HUYẾT

(Trích trong ‘Lư Luận 32 Bệnh Án’ của Lê Đức Thiếp, Việt Nam).

Nữ, 23 tuổi.  Kinh hành 8 – 9 ngày hết, 8 – 9 ngày lại có,  khi có, kéo dài cả tháng, hết  vài ngày lại có. Kinh ra nhiều, cả huyết cục, huyết  trắng  cũng nhiều. Khi ra kinh,  nếu gặp lúc đi tiểu c̣n tiểu ra kinh rất nhiều,  lưng đau, chân lạnh, gối mỏi, cột sống cổ đau, mồ hôi ra nhiều, bụng đau, chóng mặt, hàm răng nhức, ngực nóng, ăn kém, táo bón, ngủ chập chờn. Sắc mặt trắng bệch, nhiều mụn, lưỡi to dầy, rêu lưỡi trắng nhạt, da xanh mét, hơi thở uể oải, tiếng nói ồ ồ, ăn uống cố gắng cũng không  được b́nh thường, mạch bên trái Trầm Tiểu, Huyền Khẩn, mạch tay phải Trầm Tiểu và Hoạt Tiểu. Da xanh mét, lưỡi to dầy, rêu lưỡi trắng  nhạt là do dương khí của Tỳ Vị  thiếu, hoặc Tỳ Vị  hư hàn. Dương khí của Can Thận thiếu không điều khiển được máu cho đều, v́ vậy, kinh hoặc bị trồi sụt, rong kinh kéo dài, chân gối lưng mỏi lạnh. Lúc đi  tiểu, kinh  cũng theo ra là do Thận (tử cung ) với  bàng quang có tương quan biểu lư, Thận đă hư hàn không giữ được huyết th́ huyết chảy ra, yên tĩnh  bất động th́ huyết  bớt chảy ra, nếu động vào nó, nó sẽ chảy ra nhiều, theo hướng đường tiểu (bàng quang) mà ra. Lưng và bụng đều đau về phía tay trái, phía bên trái thuộc huyết, huyết lạnh  lại  ra nhiều th́ phía đó bị đau, đó là Can Thận hư hàn. Mạch tay phải thuộc Tỳ Vị, Mệnh môn, chủ về khí, nay mạch đi Trầm Tiểu, th́ dương khí của các tạng đó suy, lại c̣n thêm Hoạt Tiểu, là thêm đờm thấp nữa. Mạch bên trái thuộc Can, Thận, chủ về huyết,  nay mạch Trầm Tiểu th́ dương khí của huyết suy giảm, nhất là nó lại Trầm Tiểu ở bộ xích th́ rơ ràng là huyết vừa cạn lại vừa lạnh.  Mạch Huyền là khí huyết hao ṃn, mạch Khẩn là nội hàn, tức là máu đă ra nhiều làm khí lực hao ṃn, hao  ṃn mà lạnh th́ làm máu bị hao ṃn thêm, do đó, chẩn đoán là Tỳ Vị  và Can  Thận hư hàn.  Cho dùng:

Đương quy    12g Xuyên khung        12g
Hắc khương 12g Đại hồi 10g

Sắc uống.

Đây là bài Lư Âm Tiễn (Quy, Thục, Khương, Thảo),  bỏ vị Cam thảo, thay bằng Đại hồi, thêm Xuyên khung) Xuyên khung  để khua động máu ở tử cung và toàn thân. Đương quy bổ huyết, hành huyết,  Xuyên  khung  khua động mạch máu.  Thục địa  sinh nước màu cho tử cung. Hắc khương để ôn  kinh mạch, dẫn chất Quy Thục vào  tử cung để sinh huyết mà bù đắp số máu đă thất thoát, đồng thời giữ máu lại không cho rỉ ra.

Đại hồi để ôn Tỳ khí  và dẫn  Quy, Thục vào Thận cho ôn Thận.

Tuần đầu cho uống 5 thang  kinh hết  ra, bụng hết

đau, chỉ c̣n có huyết trắng mạch đă hơi có lực. Tiếp đó, cho uống đơn trên, thêm Thục địa 10g. Uống 5 thang, người thấy vui tươi, mạch có lực, có gốc.

Uống 20 ngày, huyết  cầm lại, người khỏe, sắc mặt tươi hồng, lên được 1kg, khỏi bệnh. Định Ninh (Lê Đức Thiếp) tôi chữa nhiều bệnh rong kinh do huyết hư hàn, cứ cho uống bài Lư Âm Tiễn là khỏi”.

 

Mục lục
Y ÁN

LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU
Y ÁN VỀ HỆ HÔ HẤP
Y ÁN VỀ MẮT
Y ÁN VỀ NAM KHOA
Y ÁN VỀ NHIỆT
Y ÁN VỀ PHỤ KHOA
Y ÁN VỀ TAI - MŨI - HỌNG
Y ÁN VỀ TIM MẠCH
Y ÁN VỀ TIÊU HOÁ
Y ÁN VỀ TIẾT NIỆU
Y ÁN VỀ TRÚNG GIÓ
 
Back

Forward


YKHOANET

, In trang này   J

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Design by HT MEDSOFT

C
Xem trang tốt nhất ở độ rộng màn h́nh 1024 x 768 -- Tŕnh duyệt  Internet Explorer 5.0 trở về sau

http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/yan/PHUKHOA/83-RONGKINHLOANHUYET.htm