|
Y ÁN |
|
. |
101- LIỆT DƯƠNG (SUY SINH DỤC)(Trích trong ‘Thiên Gia Diệu Phương’ của Lư Văn Lượng, Trung Quốc).Vương X, nam, 38 tuổi. Hơn một năm nay, phát hiện rằng khi giao hợp, dương vật không cương lên được, có lúc bị hoạt tinh. Sau khi đi tiểu, có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, tim hồi hộp, hơi thở ngắn, mất ngủ, hay quên, sắc mặt xanh xạm, thể trạng béo bệu, môi lưỡi nhạt, không có rêu, tinh thần mỏi mệt, khổ năo, không thể ở trong buồng lạnh, tiếng nói nhỏ yếu, mạch Huyền, Tế, không có lực, mạch xích Trầm Tŕ. Chẩn đoán: Chứng này do âm dương đều suy. Điều trị: Tư âm, tráng dương, ích Thận. Cho dùng bài ‘Ích Tinh Tráng Dương Hoàn Gia Vị'
Tất cả tán bột, trộn mật làm hoàn 9g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần một viên. Sau khi uống thuốc 1 tuần, mạch chuyển sang Hoăn, Hoạt, mạch xích vẫn chậm, tự cảm thấy các triệu chứng đă giảm tới 20-30%, có nghĩa là âm dương của Thận đă dần dần được phục hồi. Cho dùng tiếp tục bài cũ thêm 2 lần nữa, bệnh khỏi hoàn toàn. Sách "Loại Chứng Trị Tài' viết: 'Thương tổn vào trong th́ dương vật không cương lên được. Liệt dương phần nhiều do sắc dục làm kiệt hết tinh khí, quá suy nhược, hoặc do lo nghĩ làm cho thần trí bị tổn thương, hoặc do sợ hăi làm tổn thương Thận... Cũng có người bị thấp nhiệt hạ trú, làm cho các gân lớn mềm nhăo, gây ra liệt dương”. Căn cứ các triệu chứng thấy trường hợp này có thể là do sắc dục quá, độ làm kiệt tinh, thương tổn phần âm, âm bị tổn đến dương bị tổn, âm dương đều suy gây nên liệt dương. Căn cứ các triệu chứng, thấy trường hợp này có thể là đó sắc dục quá độ làm kiệt tinh, thương tổn phần âm, âm bị tổn dẫn đến dương bị tổn, âm dương đều suy gây nên liệt dương. Mạch Huyền, Tế, mạch bộ xích Trầm Tŕ là thuộc mạch dương suy (chứng liệt dương, hoạt tinh), sau khi đi tiểu có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, không dám ở trong buồng lạnh là dương hư, âm suy, tinh quan không cầm được. Tim hồi hộp, hay quên, mất ngủ là đó âm tinh của Thận không đủ, dẫn đến Tâm Thận bất giao. Đơn thuốc này dùng Thục địa, Sơn thù, Sơn dược, Phục linh để tư âm, bổ Thận, Nhục thung dung có vị ngọt, chua, tính ấm, vào Thận để bổ hỏa của mệnh môn, trấn tinh, ích tủy; Tỏa dương vị ngọt, ôn bổ âm, ích tinh, gây hưng phấn phần dương; Ba kích nhục vị ngọt, cay, tính hơi ấm, vào Thận, làm cường âm, ích tinh; Dâm dương hoắc có vị cay, thơm, tính ấm, vào Can Thận, có tác dụng bổ mệnh môn, ích tinh khí; Thỏ ty tử có vị ngọt, ấm, b́nh ḥa, cường âm, ích tinh; Câu kỷ tử vị ngọt, tính b́nh, có tác dụng thanh Can, tư Thận, ích khí, sinh tinh, trợ dương; Lộc nhung có vị ngọt, tính ấm, thuần dương, sinh tinh, bổ tủy, dưỡng huyết, trợ dương, làm cho dương của Thận phục hồi, âm của Thận sẽ đầy đủ, sinh tinh mà khỏi bệnh. Đó thực là "Âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị" (Sinh Khí Thông Thiên Luận – Tố Vấn 2).
|
|
, In trang này J Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/yan/YANNAMKHOA/101-LIETDUONG-SUYSINHDUC.htm |