|
Y ÁN |
|
. |
54a- HUYẾT ÁP CAO(Trích trong ‘100 Y Án’ của Việt Cúc, Việt Nam).Lâm Ngọc Ch, 37 tuổi, bệnh từ 3 năm nay. Lúc mới phát, không có chứng ǵ quan trọng lắm, chỉ có trong người mỏi, chân tay đi đứng hơi nặng nề, lưng đau, đầu nặng, mắt hoa, ngực hồi hộp, nhiều đêm khó ngủ, ngoài da hay ớn lạnh, sợ gió nhưng trong người nóng hầm, bệnh như vậy ít hôm rồi cũng bỏ qua, ít lâu lại tái phát, ăn uống kém, hơi thở ngắn và mệt. Đi khám bệnh, bác sĩ đo huyết áp hơi cao, cho uống và chích thuốc ít lâu cũng đỡ rồi thôi. Nhưng bệnh cứ dây dưa, lâu lâu lại tái phát, ăn uống suy kém, mất ngủ, v́ vậy h́nh thể dần dần tiều tụy, đến nay hầu như kiệt sức. Hiện nay đau đớn như dần, nằm không muốn dậy, lừ đừ như muốn ngủ mà không phải ngủ, mở mắt ra th́ choáng váng khó chịu, ngồi dậy, đầu cũng nặng căng, muốn gục, tại nổ lùng bùng, trong người rất mệt, trên 6, 7 tháng chích thuốc, uống thuốc Tây, thuốc bổ thận cố tinh đủ thứ, uống quá nhiều mà vẫn tiền mất tật mang, đêm khó ngủ mà hễ ngủ được th́ mộng mị, tiết tinh, thức dậy mệt mỏi, không kể xiết. Mạch Thận Trầm Vi, Tâm Can Huyền Đại, Phế Phù Sắc. Chần đoán: Thận âm tinh huyết quá suy, hư hỏa vọng động xông đốt tâm, can. Tạng phủ đều thiếu âm huyết nhuận dưỡng, phong hỏa độc vương trên thượng tiêu gây ra các chứng xây xẩm, đầu nặng, mắt choáng không ngồi được hoặc nằm ĺ không dậy nổi, tâm hung nóng nẩy khó ngủ hoặc mơ màng. Rối loạn thần kinh, bên dưới, âm tinh không cố bế, tinh tiết lâu ngày thận tinh sẽ khô kiệt. Điều trị: Tư âm, bổ thận, giáng hỏa, âm huyết được bổ sung, hư hỏa sẽ hạ và huyết áp cao sẽ khỏi.
Sắc uống ngày 1 thang. Uống 12 thang, khám lại, thấy ḿnh bớt nóng, đầu mặt bớt choáng váng, hồi hộp giảm nhiều, mạch Tâm Can Huyền Hoăn, biết là phong hỏa đă giảm, cần điều bổ khí huyết, tư âm và ôn cố thận tinh. Dùng phương trên, thêm Tục đọan 8g, Rễ cỏ xước 8g. Uống 10 thang. Các chứng trên bớt, tinh thỉnh thoảng c̣n tiết theo đường tiểu vào buổi sáng sớm. Dùng bài trên thêm Ích trí 5g, Hạt sen 8g, Tiểu hồi 4g. Uống 10 thang, các chứng đều khỏi. 54b- HUYẾT ÁP CAO(Trích trong sách ‘Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm’ của Tôn Học Quyền).Bệnh nhân Đồng, nam, 65 tuổi, công nhân hưu trí, nhập điều trị ngoại trú ngày 21/05/1979. Bệnh nhân mắc bệnh tăng huyết áp đă 10 năm, huyết áp thường khoảng 160- 180/120- 130 mmhg kèm theo chóng mặt và thị lực kém. Bệnh trạng trở nên trầm trọng trong hai tháng cuối. Chóng mặt trở thành quá nặng đến nỗi bệnh nhân không thể chỗi dậy khỏi giường, buồn ngủ dữ dội khiến cho ông ta ngủ ngay trong giờ ăn, không thể dùng 500g bánh ḿ hấp trong một bữa ăn và có cảm giác yếu mệt và sưng phù toàn thân. Khám thấy áp huyết 210/160 mmhg, mặt hơi đỏ và phù toàn thân, mạch Huyền. Chẩn đoán là huyết áp cao. Điều trị: Dùng Đầu Châm. Châm vùng Chóng mặt và Nghe, 1/5 trên của vùng Vận động, Cảm giác chân và vùng Dăn mạch, Co mạch, Lưu kim trong hai giờ. Cách ngày châm một lần. Khám lần thứ hai vào ngày 30/05/1979 thấy: huyết áp 180/130mmHg, các triệu chứng bao gồm cả chóng mặt đều giảm và bệnh nhân đă có thể tự ḿnh đến dưỡng đường. Châm như trên. Khám lần thứ ba vào ngày 10/06/1979 xác định: huyết áp 160/120mmhg, chóng mặt đă giảm một cách rơ rệt, chứng thèm ăn quá mức đă giảm một cách đáng kể, và chứng phù đă giảm hoàn toàn và có thể làm việc chút ít. Châm như cũ. Khám lần thứ tư được hoăn lại đến ngày 17/06/1979. Khám thấy: áp huyết 195/148 mmhg, chóng mặt nặng hơn một chút và chứng thèm ăn cũng tăng dần đôi chút. Châm theo phương huyệt I mỗi ngày một lần cho đến ngày 26/07/1979. Đo lại thấy áp huyết là 160/120 mmhg, không c̣n một triệu chứng nào hiện diện. Châm lần cuối rồi ngừng điều trị. Sáu tháng sau, bệnh nhân trở lại dưỡng đường để kiểm tra, áp huyết đă ổn định. 54c- HUYẾT ÁP CAO(Trích trong sách ‘Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm’ của Tôn Học Quyền).Bệnh nhân Mạnh, nữ, 44 tuổi, giáo viên, nhập điều trị ngoại trú ngày 03/03/ 1979. Bị cao huyết áp đă 3 năm, áp huyết tăng trong khoảng 180/120 mmhg, chóng mặt, khó ngủ, kích động, ngón tay chân tê, cảm giác tức và nặng trên đỉnh đầu, ấn vào th́ đỡ. Thăm khám: Cơ thể gầy yếu, có vẻ đau đớn, áp huyết cao 180/130 mmhg. Chẩn đoán tăng huyết áp. Điều trị: Châm 3 huyệt ở đỉnh đầu là Thượng tinh (XIII.23), Bách hội (XIII.20) hoặc Đầu duy (III.8), lưu kim khoảng 2 giờ và dùng huyệt An miên II làm huyệt hỗ trợ. Bệnh nhân cảm thấy giảm chóng mặt và toàn thân khỏe hơn ngay sau khi châm. Khám lần thứ hai vào ngày 5/3/1979 thấy áp huyết c̣n 160/100 mmhg, ngủ nhiều hơn, chóng mặt đă giảm. Châm như cũ. Khám lần thứ ba vào ngày 10/03/1979: áp huyết 130/80 mmhg. Hết hẳn chóng mặt, đỉnh đầu hết căng tức, những triệu chứng khác cũng đỡ nhiều. Châm các huyệt Bách hội (XIII 20), An miên II và Nội quan (IX 6), vê và lưu kim 30 phút. 3 ngày châm một lần. Châm như trên tổng cộng 5 lần để củng cố hiệu quả trị liệu. 54d- HUYẾT ÁP CAO(Trích trong sách ‘Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm’ của Tôn Học Quyền).Bệnh nhân Gia, nữ, 45 tuổi, giáo viên. Khám lần đầu ngày l0/06/1979. Bệnh nhân bị chóng mặt, mờ mắt và không thể đứng dậy được. Thăm khám cho thấy cô ta béo ph́, mặt hơi đỏ, tiếng nói chói tai và mạnh, áp huyết 190/130 mmhg, mạch Huyền Sác Chẩn đoán: Táng huyết áp. Điều trị: Châm hai bên cột sống phía sau cổ bằng hai kim, xoay kim không định hướng mỗi 10 phút một lần, lưu kim 30 phút. Bệnh nhân cảm thấy giảm chóng mặt một cách dáng kể ngay sau khi rút kim và áp huyết giảm c̣n 180/125 mmhg. Sau 5 lần châm áp huyết giảm c̣n 135/90 mmhg và các tricu chúng mất hẳn. Một năm sau bệnh nhân trở lại để kiểm tra: nhận thấy áp huyết giữ ở mức l30 - 140/90 - 100 mmlhg. |
|
, In trang này J Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/yan/YANTIM/HUYETAPCAO4.htm |